Người Mông Cổ đã thống trị phần lớn châu Á và châu Âu trong thế kỷ 13, trở thành đế chế lục địa lớn nhất từ trước đến nay, chỉ đứng thứ hai sau Đế quốc Anh về tổng diện tích lãnh thổ. Mặc dù nổi tiếng với sức mạnh quân sự hủy diệt (có ước tính cho rằng số người chết lên tới 11% dân số thế giới), đế quốc Mông Cổ đã thiết lập một kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng toàn cầu trên những vùng đất kiểm soát. Thời kỳ Pax Mongolica này cho phép tư tưởng, con người và hàng hóa lưu thông khắp lục địa Á-Âu hơn bao giờ hết, cũng là lần đầu tiên những nơi xa xôi như Konya, Kiev, Triều Tiên và Kyrgyzstan,... được thống nhất.
Tổng quan
[sửa]Người Mông Cổ là một trong số các dân tộc du mục Á-Âu, không phải là dân tộc đầu tiên cũng không phải cuối cùng bành trướng khắp thảo nguyên và chinh phục các vùng đất khác. Người Mông Cổ đã tạo những cuộc chinh phạt tàn khốc nhất trong lịch sử thế giới đồng thời để lại di sản lâu dài trên siêu lục địa Á-Âu.
Chinh phạt thế kỷ 13
[sửa]Thành Cát Tư Hãn (~1162–1227) (tên thật Thiết Mộc Chân) đã khai sinh ra đế quốc Mông Cổ. Trước đó, các bộ lạc Mông Cổ chia rẽ, thường xuyên đánh nhau. Họ cướp phá miền Hoa Bắc trong nhiều thế kỷ và người Hán buộc phải dựng Vạn Lý Trường Thành để ngăn chặn. Đồng thời Trung Quốc thường giữ mối đe dọa ở mức độ có thể kiểm soát được bằng chiến lược chia để trị.

Mọi chuyện đổi khác khi Đại Hãn thống nhất các bộ lạc thành một quốc gia duy nhất; cho đến ngày nay, người Mông Cổ vẫn tôn kính ông như người cha dân tộc. Dù có sử dụng vũ lực, nhưng Đại Hãn đã thống nhất chủ yếu thông qua bang giao, như hứa chia sẻ chiến lợi phẩm khi đánh các dân khác. Quân Mông Cổ thống nhất đầu tiên đã đánh bại Tây Hạ tại thủ phủ Ninh Hạ ngày nay, ép làm chư hầu. Sau đó, Mông Cổ vượt Trường Thành chinh phục phần lớn Hoa Bắc, chiếm cả Bắc Tấn lẫn Nam Tống.
Sức mạnh Mông Cổ đến từ dàn kỵ mã cung thủ là chiến binh xuất sắc và cực kỳ cơ động. Hơn hết, Đại Hãn vừa là thiên tài chiến thuật vừa rất giỏi trong việc chiêu mộ và khích lệ nhân tài thuộc hạ. Sự phát triển của cung cong, đội hình caracole và bàn đạp hiện đại đều hỗ trợ kỵ binh Mông Cổ. Quân Mông Cổ liên tục giành chiến thắng dù bị áp đảo về quân số hay kẻ thù phòng thủ kiên cố. Đại Hãn chỉ với khoảng 100.000 quân đã xâm lăng khi quân Hán có hơn một triệu. Quân Mông Cổ chiến thắng hết các trận, hạ sát khoảng nửa triệu quân thù.
Mục tiêu chính của Đại Hãn là chinh phục toàn bộ Trung Quốc, vừa để trả thù nỗi nhục bị ngược đãi hàng thế kỷ, vừa tích lũy khối tài sản khổng lồ. Một số biến cố phía tây đã can thiệp vào. Hãn phái sứ thần đến Ba Tư nhưng Ba Tư đã phạm sai lầm không thể cứu vãn khi chém sứ và gửi thủ cấp lại cho Hãn. Hãn bùng thịnh nộ quay quân tây chinh, chỉ trong vài năm đã đè bẹp hầu hết Ba Tư, giết chết non nửa dân số. Merv có thể là thành phố lớn nhất thế giới cho đến khi bị Hãn san bằng.
Tây Hạ bật lại khi từ chối gửi quân tiếp trợ cuộc chinh phục Trung Á. Để trả đũa, người Mông Cổ đã san bằng các thành và tàn sát gần như toàn bộ dân chúng.
Con trai Thành Cát Tư Hãn là Oa Khoát Đài hoàn thành chinh phục Hoa Bắc, chấm dứt triều đại nhà Kim và xâm lược Triều Tiên. Về phía tây, quân dưới quyền làm cỏ Ba Tư, chiếm giữ những vùng lãnh thổ rộng lớn thuộc Nga ngày nay, tây chinh đến tận Hungary và Ba Lan ngày nay.
Sau khi Oa Khoát Đài chết năm 1241, đã xảy ra tranh giành nội bộ khiến Tây Âu thoát nguy bị xâm lược. Nổi lên tất cả là Mông Kha trị vì năm 1251-1259. Ông tập trung củng cố quyền lực hơn là chinh phục, nhưng vẫn lấy được Vân Nam, Thổ Phồn, một phần Syria và Iraq.
Cháu trai Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt kế vị và hoàn thành chinh phục Trung Quốc, chấm dứt triều đại nhà Tống, dời kinh đô đến Bắc Kinh ngày nay, và trở thành hoàng đế đầu tiên của nhà Nguyên, trị vì năm 1279-1368. Khi ấy, Marco Polo đang ở Trung Quốc và làm quan cho nhà Nguyên.
Hốt Tất Liệt cũng phái hạm đội xâm lược Nhật Bản, nhưng bị một cơn thần phong (kamikaze) đánh chìm phần lớn và làm tan rã hạn đội, số còn lại đổ bộ nhanh chóng bị đánh bại. Quân Nguyên Mông cũng thất bại khi ba lần xâm lược Đại Việt. Kỵ binh Mông Cổ cơ động cao gần như bất khả chiến bại trên bất kỳ địa hình trống trải nào, cũng như dùng máy công thành, nhưng vấp phải khó khăn khi gặp môi trường biển cả hay rừng rậm.
Phân chia đế quốc
[sửa]
Nhà Nguyên màu lục
Kim Trướng màu vàng
Sát Hợp Đài màu xám
Y Nhi màu tím
Từ khi Oa Khoát Đài qua đời, đế quốc thường xuyên hỗn loạn khi hậu duệ Đại Hãn tranh giành quyền lực. Khi Hốt Tất Liệt qua đời năm 1294, đế quốc bị chia thành bốn phần lớn — nhà Nguyên, Hãn quốc Kim Trướng, Hãn quốc Sát Hợp Đài và Hãn quốc Y Nhi. Sau đó, phần nhà Nguyên bị thu hẹp đáng kể cũng như các hãn quốc phía tây tiếp tục chia tách. Ở nhiều vùng, các triều đại có nguồn gốc từ Mông Cổ thường kết hôn với giới quý tộc địa phương, tiếp tục cai trị trong nhiều thế kỷ.
Dưới thời nhà Nguyên, Trung Hoa rộng lớn hơn bất kỳ thời điểm nào khác trong lịch sử, bao gồm Mông Cổ (Mông Cổ ngày nay và Nội Mông), Tân Cương, Tây Tạng, Triều Tiên, một phần Myanmar, Trung Á và Nga ngày nay .
Hãn quốc Kim Trướng bao gồm phần lãnh thổ thuộc châu Âu, chẳng hạn như phần lớn nước Nga thuộc châu Âu (trừ Novgorod và Vladimir), phía tây Kazakhstan, Ukraina, Belarus, Ba Lan và Hungary. Nước Nga trước thời Mông Cổ là một vùng đất bị chia cắt, tương tự như nước Ý thời Phục Hưng với các công quốc tranh hùng, nhưng chính từ Hãn quốc Kim Trướng mà nổi lến Đế quốc Nga.
Hãn quốc Sát Hợp Đài (theo tên một con trai Thành Cát Tư Hãn) tập trung ở Trung Á (trừ Turkmenistan), bao gồm các thành phố lớn như Samarkand, Kokand, Bukhara, Khiva, Tashkent cùng các nước Kyrgyzstan, Tajikistan và Afghanistan.
Hãn quốc Y Nhi là phần lãnh thổ cực tây, tập trung quanh Ba Tư (Iran ngày nay), nhưng cũng bao gồm Iraq, Turkmenistan, Azerbaijan, Armenia, Anatolia (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) và Syria.
Cuối những năm 1200, ngoại trừ Kim Trướng, Marco Polo đã viếng thăm ba Hãn quốc còn lại. Còn Ibn Battuta đã đặt chân đến cả bốn vương quốc đầu những năm 1300.
Sau năm 1350
[sửa]Thiếp Mộc Nhi (~1330-1405) là hậu duệ Thành Cát Tư Hãn, nhà chinh phạt du mục vĩ đại cuối cùng của châu Á. Ông ôm mộng khôi phục thời kỳ huy hoàng của Đế chế Mông Cổ và đã đạt được những tiến bộ đáng kể trên đường hướng tới mục tiêu; ông đã thống nhất tàn dư của ba hãn quốc phía tây và đang trên đường tấn công Trung Quốc thì qua đời. Ông chiếm được các thành phố cách xa nhau như Delhi và Smyrna (trên bờ Địa Trung Hải thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), và một đồng minh đã thiêu rụi Moskva. Định đô tại Samarkand và cung điện Registan ở đây hiện là Di sản Thế giới UNESCO và là điểm thu hút chính đối với du khách trên Con đường tơ lụa.
Babur (1483-1530) là chắt Thiếp Mộc Nhi, gia tộc cai trị bồn địa Fergana phía đông Samarkand. Ông dẫn quân tiến về phía nam theo cùng tuyến đường mà Thiếp Mộc Nhi đã đi và thành lập Đế quốc Mogul, đế quốc cai trị phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ trong nhiều thế kỷ, cho đến khi bị người Anh lật đổ cuối thế kỷ 19.
Từ thế kỷ 16, sau khi đánh bại Hãn quốc Kim Trướng cùng tàn dư, Đế quốc Nga trở thành cường quốc thống trị phía bắc lục địa Âu Á. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 19, Nga mới kiểm soát được toàn bộ Trung Á. Ở nước Nga ngày nay, người Buryat và người Kalmyk là hậu duệ người Mông Cổ, nói những ngôn ngữ có mối liên hệ mật thiết với tiếng Mông Cổ, có chung những mối quan hệ văn hóa.
Tại Trung Quốc, khởi nghĩa nông dân lập ra nhà Minh năm 1368. Tàn dư nhà Nguyên trốn sang Mông Cổ lập ra nhà Bắc Nguyên, bị Mãn Châu thôn tính năm 1635. Mông Cổ trở thành đồng minh quan trọng của Mãn Châu trong cuộc chinh phạt Trung Quốc, thành lập ra nhà Thanh năm 1644. Trên thực tế, liên hôn Mông Cổ-Mãn Châu rất Mãn Châu rất phổ biến trong suốt triều đại nhà Thanh, thậm chí một số phụ nữ Mông Cổ còn là thái hậu.
Mông Cổ vẫn thuộc đế quốc Đại Thanh cho đến khi đế chế này sụp đổ năm 1911, một nhà nước Mông Cổ độc lập de facto nổi lên trở lại. Trung Hoa Dân quốc mới không chấp nhận yêu sách độc lập của Mông Cổ nhưng lại không đủ lực khuất phục. Sau đó, Liên Xô ép Trung Quốc công nhận Ngoại Mông Cổ độc lập trở thành nước Mông Cổ, còn Nội Mông vẫn là một tỉnh của Trung Quốc.
Điểm đến
[sửa]
Đỏ: Dân số Mông Cổ ngày nay
Trung Quốc
[sửa]- Điếu Ngư Thành (钓鱼城, Diaoyucheng), Hợp Xuyên, Trùng Khánh. Một trong hơn 80 thành lũy trên núi được bảo tồn tốt nhất được xây dựng thời Tống để chống quân xâm lược Mông Cổ. Thành chặn đứng hơn 200 cuộc tấn công trước khi bị chiếm đóng vào năm 1279. Năm 1259, Mông Kha tử trận khi vây hãm Điếu Ngư Thành.
- Lăng Thành Cát Tư Hãn (成吉思汗陵; Chéngjísīhànlíng) (tại kỳ Ejin Horo cách 55 km về phía nam Đông Thắng, Nội Mông). Không giống như tên gọi, đây chỉ là đền thờ Thành Cát Tư Hãn. Mộ thực vẫn còn là bí ẩn theo đúng như Đại Hãn chỉ dụ.
- Thượng Đô (Shangdu, Xanadu, 上都), Chính Lam, Nội Mông (232 km phía nam Xilinhot). Tàn tích kinh đô mùa hè nổi tiếng của Hốt Tất Liệt
- Công viên di chỉ Nguyên Đại Đô (元大都城墙遗址公园), Triều Dương, Bắc Kinh. Tàn tích tường thành bắc Đại Đô, kinh đô mùa đông của nhà Nguyên.
- 1 Công viên di chỉ khảo cổ quốc gia Nguyên Trung Đô (元中都国家考古遗址公园), Trương Bắc, Hà Bắc (75 km phía bắc Trương Gia Khẩu). Tàn tích kinh đô Trung Đô của nhà Nguyên năm 1307-1357.

- 2 Bảo tàng Nguyên Trung Đô (元中都博物馆), Trương Bắc, Hà Bắc (56 km phía bắc Trương Gia Khẩu). Trưng bày hiện vật được khai quật tại tàn tích Trung Đô.

Mông Cổ
[sửa]Hầu như mọi thứ ở Ulan Bator đều liên quan tới một khía cạnh nào đó của Đế quốc Mông Cổ (dù cũng có khá nhiều địa danh từ thời Cộng sản), và hầu hết các bảo tàng dành riêng về đế chế này đều nằm ở đây.
- 3 Bảo tàng Thành Cát Tư Hãn, Ulan Bator.

- 4 Bảo tàng Quốc gia Mông Cổ, Ulan Bator. Bảo tàng chính ở thủ đô lưu giữ những hiện vật quan trọng nhất về lịch sử phong phú của Mông Cổ, có niên đại hàng nghìn năm. Bao gồm hiện vật dân tộc học các bộ lạc khác nhau, tranh khắc đá và tranh vẽ hang động, di tích người Turk, vũ khí, áo giáp, và nhiều hiện vật khác từ thời người Hung và Đế quốc Mông Cổ, thời Trung Quốc cai trị, thời Cộng sản và cách mạng dân chủ năm 1990. Thậm chí còn có trưng bày chân dung tự họa và đồ dùng cá nhân của Thành Cát Tư Hãn và các đại hãn khác. Hầu hết hiện vật trưng bày đều có chú thích bằng tiếng Anh và tiếng Mông Cổ. Đây nên là điểm dừng chân đầu tiên khi đến tham quan thủ đô.

- 5 Tổ hợp tượng Thành Cát Tư Hãn (Чингис Хааны Морьт Хөшөөт Цогцолбор), Ulaanbaatar, Nalaikh, Ulaanbaatar 12593. Tượng kỵ mã lớn nhất thế giới. Một tác phẩm điêu khắc bằng thép không gỉ đồ sộ tôn vinh Thành Cát Tư Hãn với bảo tàng nhỏ bên trong bệ tượng. Du khách có thể đi thang máy từ đuôi ngựa lên đến đỉnh đầu, nơi có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh gần 360° của thảo nguyên Mông Cổ. Cách Ulan Bator khoảng một tiếng rưỡi về phía nam-đông nam.

- 6 Karakorum (Хархорум). "Kinh đô" đế quốc, nơi các du khách như William xứ Rubruck đã ghé thăm khi gặp Đại Hãn. Ngày nay, tu viện Erdene Zuu (nơi Phật giáo du nhập vào Mông Cổ) tọa lạc trên vị trí của thành cổ. Thành phố Kharkhorin hiện nay nằm ở phía tây bắc vị trí đó.

- 7 Burkhan Khaldun (Бурхан Халдун). Đâu đó trong dãy núi này, Thiết Mộc Chân cùng mẹ và anh chị em đã trú ẩn khi bị bộ lạc trục xuất sau khi cha qua đời. Người Mông Cổ xem dãy núi này rất linh thiêng, vì các nguồn tài liệu dường như chỉ ra đây là nơi sinh Thiết Mộc Chân, cũng như là nơi đặt mộ phần (không có bia mộ nhằm che dấu theo chỉ dụ).

Hàn Quốc
[sửa]- 8 Di tích lịch sử Hangpaduri Hangmong (kháng Mông) (제주 항파두리 항몽 유적), Thành phố Jeju. Năm 1270, quân Cao Ly nổi dậy chống lại Mông Cổ xâm lược và cuối cùng tháo lui về đảo Jeju để kháng cự cho đến chết. Cầm cự tại đây được 2 năm trước khi toàn bộ binh lính bị giết trong một thành lũy.

Trung Á
[sửa]Dù Mông Cổ không nhất thiết xây dựng bất kỳ công trình kiến trúc lớn nào còn tồn tại ở Trung Á đến nay, nhưng một số nơi bị phá hủy lại trở thành dic tích.
- 9 Merv (Мерв, Марв, Merw, Margiana). Có thể nói Merv (thuộc Turkmenistan ngày nay), là thành phố lớn nhất thế giới vào thời điểm Mông Cổ san bằng như hình phạt cho tội dám "kháng cự". Văn liệu đương thời cho rằng có từ 700.000 đến 1,3 triệu người đã bị tàn sát; Merv không bao giờ hồi phục được sau đó.

Ngôn ngữ
[sửa]
Đế quốc Mông Cổ chưa bao giờ dùng tiếng Mông Cổ làm ngôn ngữ chính thức. Thay vào đó, họ dùng bất kỳ ngôn ngữ nào ưu thế trong vùng chiếm đóng. Tiếng Duy Ngô Nhĩ được viết sắc lệnh chính thức, vì người Duy Ngô Nhĩ là dân tộc đầu tiên có truyền thống văn chương bị Mông Cổ sáp nhập vào đế quốc. Khi đi ra ngoài vùng trung tâm đế quốc, các ngôn ngữ khác như tiếng Trung Quốc, tiếng Nga, tiếng Ba Tư hoặc tiếng Ả Rập sẽ được sử dụng.
Tiếng Mông Cổ là ngôn ngữ chính của người Mông Cổ. Ngày nay, đây là ngôn ngữ chính thức duy nhất ở Mông Cổ. Còn ở Trung Quốc, đây là ngôn ngữ đồng chính thức với tiếng Quan Thoại ở Nội Mông và các quận, huyện tự trị Mông Cổ những tỉnh lân cận. Tiếng Mông Cổ dùng 2 hệ chữ viết: nước Mông Cổ dùng chữ cái Kirin, còn người Mông Cổ ở Trung Quốc dùng chữ cái truyền thống từ thời Thành Cát Tư Hãn. Từ chữ Mông Cổ truyền thống đã sinh ra chữ Mãn nằm trong số ít chữ viết theo chiều dọc. Tính đến năm 2020, chính phủ Mông Cổ đã bắt đầu chuyển đổi các tài liệu chính thức sang chữ viết truyền thống.
Tiếng Nga thường được người có học thức ở Mông Cổ sử dụng như ngôn ngữ thứ hai, trong khi người Mông Cổ bản địa ở Trung Quốc thường nói cả tiếng Quan thoại.
Hành trình
[sửa]Xem thêm
[sửa]- Thời đại hoàng kim Hồi giáo
- Đế quốc Mogul
- Tây Hạ
- Tour Ghost of Tsushima - Game hư cấu dựa trên sự thật lịch sử Mông Cổ xâm lược Nhật Bản
Đế quốc Mông Cổ