Malaysia

Từ Wikivoyage
Châu Á > Đông Nam Á > Malaysia
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm


Malaysia
Vị trí
LocationMalaysia.png
Quốc kỳ
Flag of Malaysia.svg
Thông tin cơ bản
Thủ đô Kuala Lumpur
Chính phủ Quân chủ lập hiến
Tiền tệ Malaysian Ringgit (MYR)
Diện tích 329.847 km2
Dân số 29.179.952 (giữa 2012)
Ngôn ngữ Tiếng Mã Lai (chính thức), Anh (chính thức trong một số trường hợp), Hoa (Mandarin, Cantonese, Hokkien, Hakka, Hải Nam, Foochow), Tamil, Telugu, Malayalam, Punjabi, Thái, nhiều ngôn ngữ thiểu số khác
Tôn giáo Hồi giáo dòng Sunni (chính thức), Phật, Công giáo, Hindu, Taoism, Khổng giáo, Sikhism, Animism & Shamanism ở những vùng ngoại ô
Hệ thống điện 230V/50Hz (kiểu Anh)
Mã số điện thoại +60
Internet TLD .my
Múi giờ UTC +8
Khẩn cấp Dial 999

Malaysia (đọc là Ma-lay-xi-a) là một quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á. Thủ đô là Kuala LumpurPutrajaya là thủ đô hành chính. Malaysia nằm một phần ở phía nam của bán đảo Mã Lai và một phần ở phía bắc của đảo Borneo. Đầu tận cùng phía nam trên bán đảo Mã Lai nối với Singapore bằng cầu.

Tổng quan[sửa]

Lịch sử[sửa]

Trước thời kỳ nổi lên của các cường quốc thực dân Châu Âu, bán đảo Mã Lai và quần đảo Mã Lai ở nhà để đế chế như Srivijaya, các Majapahit (đế chế sau ở Indonesia) và Vương quốc Hồi giáo Malacca. Các đế quốc Srivijaya và Majapahit chứng kiến sự truyền bá của Ấn Độ giáo trong khu vực, và cho đến ngày nay, mặc dù trên danh nghĩa Hồi giáo, nhiều truyền thuyết và truyền thống Ấn Độ giáo tồn tại trong nền văn hóa Mã Lai truyền thống. Chuyển đổi lớn sang Hồi giáo chỉ xảy ra sau khi sự xuất hiện của thương nhân Ả Rập trong Vương quốc Hồi giáo Malacca.

Trong thế kỷ 16, Bồ Đào Nha thành lập các thuộc địa Châu Âu đầu tiên ở Đông Nam Á bằng cách đánh bại Vương quốc Hồi giáo Malacca. Người Bồ Đào Nha sau đó sau đó bị mất Malacca cho Hà Lan. Anh cũng thành lập thuộc địa đầu tiên của họ trên bán đảo Mã Lai ở Penang khi nó được nhượng của Quốc vương Kedah trong năm 1786. Cuối cùng, khu vực này được chia thành các lĩnh vực Hà Lan và Anh ảnh hưởng với việc ký kết Hiệp ước Anh-Hà Lan năm 1824. Với hiệp ước này, người Hà Lan đã đồng ý nhượng lại Malacca đến sự trở lại của Anh và trong, người Anh nhượng lại tất cả các thuộc địa của họ trên đảo Sumatra cho Hà Lan. Đường phân chia khoảng tương ứng với những gì ngày nay là biên giới giữa Malaysia và Indonesia. Trước Thế chiến II, bán đảo Mã Lai bị chi phối bởi người Anh như Mã Lai Liên bang (Selangor, Perak, Negeri Sembilan và Pahang), được cai trị như một thực thể duy nhất, Mã Lai Hoa Malay không Liên minh (Johor, Kedah, Perlis, Terengganu và Kelantan), mà đã từng cai trị như bảo hộ riêng biệt, và Straits Settlements (bao gồm cả Malacca, Penang và Singapore), được vương miện thuộc địa. Phía bắc Borneo bao gồm các thuộc địa Anh ở Bắc Borneo, Vương quốc Sarawak, được cai trị bởi một gia đình người Anh gọi là "trắng Rajas", và chế độ bảo hộ của Anh Brunei.

Chiến tranh Thế giới II là một thảm họa cho Bộ Tư lệnh Mã Lai Anh. Nhật Bản tràn xuống cả hai bờ biển của bán đảo Mã Lai và mặc dù giao tranh ác liệt, phần lớn quân đội Anh đã được ràng buộc chiến đấu với người Đức ở Châu Âu và những gì còn lại trong Malaya chỉ đơn giản là không thể đối phó với sự tấn công của Nhật Bản. Các trang thiết bị quân Anh để lại để bảo vệ Malaya đã lỗi thời và không phù hợp cho những người hiện đại được sử dụng bởi người Nhật, trong khi các thiết giáp hạm chỉ có hai trụ sở tại khu vực, HMS Prince of Wales và HMS Repulse, đã chìm bởi máy bay ném bom Nhật Bản ra khỏi biển Đông Malaya. Bởi ngày 31 tháng 1 năm 1942, người Anh đã bị đẩy tất cả các cách trở lại Singapore, mà cũng rơi vào Nhật Bản vào ngày 15 Tháng Hai 1942. Tình hình cũng không khác trên đảo Borneo, mà rơi vào tay Nhật Bản trên 1 tháng 4 năm 1942 sau nhiều tháng giao tranh ác liệt. Sự chiếm đóng của Nhật Bản hết sức tàn bạo và nhiều người, đặc biệt là các dân tộc Trung Quốc, chịu đau khổ và chết trong thời kỳ chiếm đóng. Trong số những tội ác khét tiếng nhất cam kết của Nhật Bản là chết Marches Sandakan, chỉ có sáu trong số hàng ngàn tù nhân còn sống sót chiến tranh. Sau Thế chiến II, Liên bang Mã Lai, Malay không Liên minh Mã Lai Hoa và eo biển định cư của Malacca và Penang đã liên để tạo thành một thuộc địa duy nhất của Anh được gọi là Liên minh Malaya, với Singapore tách ra để tạo thành một thuộc địa riêng biệt. Trong Liên minh Mã Lai, các Sultan của các quốc gia khác nhau nhượng tất cả các quyền hạn của mình, trừ các vấn đề tôn giáo để vương miện của Anh. Tuy nhiên, phe đối lập rộng rãi đến là Liên minh Malaya khiến thực dân Anh để xem xét lại vị trí của họ, và trong năm 1948, Liên minh Mã Lai đã được thay thế bởi Liên bang Malaya, trong đó các vị trí điều hành của Sultan đã được khôi phục. Ở Borneo, các Rajas trắng nhượng Sarawak với vương miện của Anh vào năm 1946, làm cho nó một thuộc địa của Vương quốc Anh.

Trên 31 tháng 8 năm 1957, Malaysia giành được độc lập từ Anh. Lúc nửa đêm, Liên minh Jack đã bị hạ bệ, và cờ Mã Lai được dương lên ở nơi nay là Dataran Merdeka (Quảng trường Độc lập) tại Kuala Lumpur. Đám đông khán giả, đứng đầu là Thủ tướng đầu tiên của Malaysia, Tunku Abdul Rahman, sau đó tiếp tục ca "Merdeka" bảy lần. Ngày 16 tháng 9 năm 1963, Malaysia đã được hình thành thông qua sự kết hợp của Malaysia với các thuộc địa Anh ở Bắc Borneo (bây giờ gọi là Sabah), Sarawak và Singapore, với Brunei quyết định không tham gia. Trên 09 tháng tám năm 1965 Singapore đã chính thức bị trục xuất khỏi Liên đoàn sau nhiều cuộc bạo loạn sắc tộc đẫm máu như đa số người Trung Quốc về dân số và Đảng Hành động nhân dân, do Lý Quang Diệu (sau này là dài cầm quyền Thủ tướng Singapore), được xem là một mối đe dọa cho sự thống trị Malay. Trong những năm đầu tiên của lịch sử đất nước đã bị phá hỏng bởi cuộc đối đầu Indonesia (Konfrontasi) cũng như tuyên bố chủ quyền Sabah từ Philippines.

Địa lý[sửa]

Malaysia (tiếng Mã Lai: Malaysia, phát âm: Ma-lai-xi-a; tiếng Hán: 马来西亚, âm Hán Việt: Mã Lai Tây Á) là một liên bang gồm mười ba bang tại Đông Nam Á. Nước này gồm hai vùng địa lý bị chia tách bởi Biển Đông:

  • Bán đảo Malaysia (hay Tây Malaysia) trên Bán đảo Mã Lai có biên giới trên bộ ở phía bắc với Thái Lan và thông qua Đường nổi Johor-Singapore và Đường nối Malaysia-Singapore thứ hai ở phía nam nối với Singapore. Nó gồm chín bang (Johor, Kedah, Kelantan, Negeri Sembilan, Pahang, Perak, Perlis, Selangor và Terengganu), hai bang dưới sự lãnh đạo của Thống đốc (Malacca và Penang), và hai lãnh thổ liên bang (Putrajaya và Kuala Lumpur).
  • Đông Malaysia (hay Borneo thuộc Malaysia) chiếm phần phía bắc đảo Borneo, giáp biên giới với Indonesia và bao quanh Vương quốc Hồi giáo Brunei. Nó gồm các bang SabahSarawak lãnh thổ liên bang Labuan.

Cái tên "Malaysia" được chấp nhận năm 1963 khi Liên bang Mã Lai (tiếng Mã Lai: Persekutuan Tanah Melayu), Singapore, Sabah và Sarawak hình thành một liên bang gồm 14 bang. Singapore đã rời khỏi liên bang năm 1965 và sau đó trở thành một quốc gia độc lập.

Dù chính trị thuộc quyền thống trị của người Mã Lai, xã hội Malaysia hiện đại không đồng nhất, với cộng đồng người gốc Trung Quốc và Ấn Độ khá lớn. Chính trị Malaysia đáng lưu ý ở tính cộng đồng của nó; ba thành phần chính của Barisan Nasional đều giới hạn đảng viên trong sắc tộc của mình. Tuy nhiên, cuộc tranh giành bạo lực lớn duy nhất giữa các cộng đồng từ khi giành được độc lập là vụ náo loạn chủng tộc ngày 13 tháng 5 năm 1969 xảy ra khi chiến dịch vận động của một tranh cử bị các vấn đề sắc tộc gây ảnh hưởng.

Map of West and East Malaysia

)

Vùng[sửa]

Gồm hai vùng địa lý bị chia tách bởi Biển Đông :

Thành phố[sửa]

Các điểm đến khác[sửa]

Đến[sửa]

Hầu hết công dân các nước có thể đến Malaysia mà không cần visa và có thể cư trú ở Malaysia từ 14 đến 90 ngày tùy thheo quốc tịch. Vui lòng xem thông tin thêm tại Bộ Ngoại giao [1]. Nếu đến các bang phía tây Malaysia như SabahSarawak, họ vẫn có quy định riêng về nhập cư và có sự kiểm soát riêng thậm chí người Malaysia từ các bang khác vẫn cần passport hoặc MyKad khi đến. Những cá nhân cần visa vào Malaysia sẽ cần thêm các visa riêng biệt nếu bạn muốn đến những bang khác.

Những người muốn vào Malaysia với mục đích khác ngoài xã hội hoặc kinh doanh vẫn cần có visa, xem thêm [2].

Công dân mang quốc tịch Việt Nam mang hộ chiếu phổ thông sẽ được cấp visa khi đến cho thời gian lưu trú 30 ngày.

Bằng đường hàng không[sửa]

Sân bay quốc tế Kuala Lumpur (KLIA) là sân bay chính của Malaysia, là một trong những sân bay bận rộn nhất Châu Á. Khách từ Việt Nam không cần xin visa trước, visa nhập cảnh được cấp khi đến sân bay quốc tế Kuala Lumpur.

Hiện có các tuyến bay thẳng giữa sân bay quốc tế Kuala Lumpur với Hà Nội, Đà NẵngThành phố Hồ Chí Minh.

Bằng tàu hỏa[sửa]

Đi từ Singapore bằng tàu hỏa?

Nếu bạn quyết định đi từ Singapore vào Malaysia bằng tàu hỏa, bạn có thể mua vé ở Singapore bằng đô la Singapore với tỉ giá 1:1 so với đồng ringgit Malaysia. Tức là vé có giá RM20 ở Malaysia sẽ chi S$20 ở Singapore, nếu trả bằng ringgits, chi phí khoảng RM50. Hệ thống giá vé lẻ này là một phần còn lại của hệ thống tiền tệ cũ, nơi đồng ringgit của Malaysia đã trao đổi ngang bằng với đồng đô la Singapore.

Để tránh điều này:

  1. Mua vé tàu từ Singapore đến Johor Bahru và trả tiền vé tiếp theo cho chặng từ Johor Bahru trở đi.
  2. Qua biên giới bằng đường bộ và sau đó đón tàu hỏa tại Johor Bahru.
  3. Đặc vé lượt về ở Malaysia. Kuala Lumpur-Singapore-Kuala Lumpur vẫn rẻ hơn vé 1 chiều từ Singapore.
  • Đi từ/Đến Thái Lan: Các tàu thẳng giường nằm do công ty đường sắt Thái Lan vận hành [3] nối Bangkok (Thái Lan) và Butterworth gần Penang (Malaysia), trong khi Keretapi Tanah Melayu (Malaysian Railways) [4] vận hành các chuyến tàu giữa Hat Yai (Thái Lan) và Kuala Lumpur (Malaysia). Cả hai loại tàu này đều qua biên giới tại Padang Besar where Thai and Malaysia immigration formalities are all conveniently done in the station. There is also a less used eastern route from Hat Yai to Thai border town Sungai Kolok, but there are no through trains to the nearby Malaysian station at Wakaf Bahru (near Kota Bharu).
  • To/from Singapore: Singapore is the southern terminus of the Malayan Railway (Keretapi Tanah Melayu [5]) network. Comfortable overnight sleeper and somewhat misnamed daytime "express" trains connect Singapore with Kuala Lumpur and Tumpat, near Kota Bharu. Bizarrely, tickets purchased at the Singapore station are twice as expensive as those purchased in Malaysia; you can save quite a bit by taking the train from Johor Bahru instead. Another option is to buy your tickets online at the cheaper rate, but you must book at least 48 hours in advance.

Bằng ô-tô[sửa]

Bằng buýt[sửa]

Bằng tàu thuyền[sửa]

Đi lại[sửa]

Đi lại ở Kuala Lumpur

KL thì có hệ thống tàu điện Monorail và LRT với nhiều line khác nhau. Nếu đi từng trạm chỉ cần mua vé ở quầy bán vé hoặc máy bán tự động. Thường 1 chặng là 1.2 RM, xa hơn khoảng 1.5 đến 1.8 RM. Ở mỗi trạm đều có chỉ dẫn rõ ràng, hướng đi của các line, chỉ cần có bản đồ của hệ thống tàu điện thì sẽ rất dễ dàng đi lại bằng tàu điện. Khi mua vé lẻ, bạn sẽ nhận được những đồng xu nhựa màu xanh da trời, khi qua cổng chị đặt mặt đồng xu để máy quét mở cổng, khi nào xuống bến bạn nhét lại xu vào cổng trả lại máy. Thẻ TouchnGo ở KL dùng như thẻ EZlink ở Sing, quẹt thẻ ở đầu vào & quẹt ra ở trạm ra. Tuy nhiên, thẻ này ko phải ở trạm LRT nào cũng có bán như ở Sing mà chỉ bán ở 1 số trạm nhất định. Bạn vào đây để tìm những trạm có bán thẻ: http://www.touchngo.com.my/index.php…swhere2reloadt Trạm thông dụng nhất có bán thẻ TouchnGo là KL Sentral. Xem thêm các hướng dẫn đi lại khác ở bài viết Gốc Kinh nghiem du lich Malaysia, site toidi.net

Ngôn ngữ[sửa]

Tiếng Mã Lai, tiếng Anhtiếng Hoa (tiếng Quảng Đông và tiếng Phúc Kiến)

Mua sắm[sửa]

Chi phí[sửa]

Thức ăn[sửa]

Thức ăn Malaysia có thể có gia vị không phù hợp với nhiều người Việt, do phần lớn người Mã Lai theo đạo Hồi nên nhà hàng người Mã Lai không có thịt lợn và bia rượu. Ở Malaysia có cộng đồng người Hoa đông đảo và có nhiều nhà hàng món ăn Trung Hoa.

Đồ uống[sửa]

Chỗ nghỉ[sửa]

Học[sửa]

Làm[sửa]

An toàn[sửa]

Y tế[sửa]

Tôn trọng[sửa]

Liên hệ[sửa]


Bài hướng dẫn này chỉ mới ở dạng dàn bài nên nó cần bổ sung nhiều thông tin hơn. Hãy mạnh dạn sửa đổiphát triển nó!