Châu Á > Đông Á > Trung Quốc > Tây Nam Trung Quốc > Khu tự trị Tây Tạng

Khu tự trị Tây Tạng

Từ Wikivoyage
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Tây Tạng (tiếng Tây Tạng cổ: Bod; (བོད་), phương ngữ Lhasa: Pö; tiếng Quan Thoại: 西藏, Xīzàng) là khu vực đôi khi được mô tả như là "nóc nhà của thế giới"; toàn bộ khu vực nằm trên một cao nguyên cao, có nhiều ngọn núi lớn. Khu vực này có nền văn hóa độc đáo của riêng mình, và hầu hết du khách sẽ tìm thấy một số loại cây, cũng như động vật hoang dã và động vật bản địa khá kỳ lạ. Bước vào Tây Tạng, bạn sẽ cảm thấy như mình đã tìm thấy một thế giới hoàn toàn khác.

Bò Yak tại hồ Yumtso

Về chính trị, Tây Tạng là một vùng tự trị của Trung Quốc, nhưng có một phong trào đấu tranh đòi độc lập và thậm chí là một chính phủ lưu vong, đứng đầu là cựu lãnh đạo của khu vực, Đức Đạt-lai Lạt-ma. Để thảo luận, xem phần Hiểu bên dưới. Các du khách bất đồng chính kiến với tình hình chính trị hiện nay có thể nghĩ rằng họ sẽ lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức, bởi nếu đi đến Tây Tạng, họ cảm thấy họ đang ngầm hỗ trợ chế độ Trung Quốc, khi số tiền họ bỏ ra được tiếp nhận bởi các cơ quan chức năng Trung Quốc. Tuy nhiên, Đức Đạt-lai Lạt-ma khuyến khích người nước ngoài tới Tây Tạng, để họ có thể tự thấy được tình hình hiện tại và vì người Tây Tạng chào đón sự hiện diện của họ.

Tây Tạng cũng đang trở thành một điểm đến du lịch phổ biến hơn với bản thân người Trung Quốc. Một cách gần như ngoại lai với những người từ các khu vực khác của Trung Quốc, khi là một người nào đó từ phía bên kia của thế giới, và bây giờ có một liên kết đường sắt tốt.

Mặc dù có một phong trào đòi độc lập đang hoạt động ở Tây Tạng, từ quan điểm của một khách du lịch, Tây Tạng hiện nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ Trung Quốc, và khách du lịch đến Tây Tạng sẽ cần có được thị thực Trung Quốc và những giấy tờ tương tự. Trang này không đại diện cho một sự chứng thực chính trị của bất kì bên tranh chấp nào.

Các vùng[sửa]

Qamdo, Chamdo, Chab mdo hay Changdu?

Bất cứ địa danh nào ở Tây Tạng đều có thể được viết ít nhất là bằng bốn cách khác nhau.
Bính âm của tiếng Tây Tạng (Qamdo) kết hợp phát âm của Tây Tạng với cách phiên âm bính âm Trung Quốc: nó được sử dụng trên các biển báo, vé và những thứ tương tự, và là cách hữu ích nhất cho các du khách mà cũng là những gì Wikivoyage đang sử dụng.
Tournadre (Chamdo) sử dụng nhiều phiên âm phương Tây hơn, nhưng không thường thấy ở Tây Tạng.
Những cách phiên âm mang tính học thuật như Wylie (Chab mdo), sao chép một cách tỉ mỉ cách viết tiếng Tây Tạng, nhưng khiến việc phát âm trở nên gần như bất khả thi (ví dụ, Bka' rgyud được đọc là "Kagyu").
Cuối cùng, bất kì địa danh nào ở Tây Tạng đều có một tên tiếng Trung Quốc (昌都), có thể đọc được như tiếng Trung (Changdu).

Có bảy tỉnh ở Khu tự trị Tây Tạng:

Bài viết này chỉ bao gồm khu vực Khu tự trị Tây Tạng (TAR), mặc dù đã từng có một Vương quốc Tây Tạng lớn hơn đáng kể so với biên giới hiện tại của khu tự trị.

Để tìm hiểu thêm về các khu vực khác có liên kết văn hóa với Tây Tạng, xem các tỉnh Thanh HảiVân Nam của Trung Quốc; phần lãnh thổ Ấn Độ của Ladakh, Lahaul và Spiti, và Sikkim; và các quốc gia độc lập BhutanNepal.

Thành phố[sửa]

  • Lhasa - thủ phủ của Tây Tạng
  • Gyantse
  • Qamdo ( Chamdo)
  • Xigatse ( Shigatse) - thành phố lớn thứ hai ở Tây Tạng

Các điểm đến khác[sửa]

Hiểu[sửa]

Lịch sử[sửa]

Từ 1912 đến 1950, khu vực Khu tự trị Tây Tạng hiện nay (bao gồm Ü-Tsang và miền tây Kham) do chính phủ Tây Tạng quản lý và đứng đầu là Đạt Lai Lạt Ma. Các nơi khác của khu vực dân tộc - ngôn ngữ Tây Tạng (phía đông Kham và Amdo) không nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền Tây Tạng từ giữa thế kỷ 19.[1]; và ngày nay được phân thuộc các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xuyên và Vân Nam.

Theo mô hình Xô viết, tục lệ ngầm được quy định rằng Chủ tịch Khu tự trị Tây Tạng là một người thuộc dân tộc Tạng còn bí thư Đảng ủy sẽ là người thuộc các dân tộc khác, thường là người Hán. Trong đó, đáng chú ý là Hồ Cẩm Đào, ông đã giữ chức vụ bí thư trong thập niên 1980.

Năm 1950, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào khu vực Chamdo của Tây Tạng và gặp phải sự kháng cự rất nhỏ. Năm 1951, đại diện Tây Tạng dưới sức ép của quân đội Trung Quốc đã ký một Hiệp ước 17 điểm với chính quyền Trung ương Trung Quốc xác nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Tây Tạng. Hiệp ước được phê chuẩn tại Lhasa ít tháng sau đó.[2][3]

Mặc dù hiệp ước 17 điểm đảm bảo duy trì một chính quyền tự trị do Đạt Lai Lạt Ma đứng đầu, một “Ủy ban Soạn thảo về Khu tự trị Tây Tạng” được tạo ra năm 1955 để xúc tiến thành lập một hệ thống sông song về hành chính theo đường lối cộng sản. Đạt Lai Lạt Ma chạy trốn sang Ấn Độ năm 1959 và từ bỏ hiệp ước 17 điểm. Khu tự trị Tây Tạng được thành lập năm 1965, và từ đó Tây Tạng trở thành một đơn vị hành chính ngang với cấp tỉnh tại Trung Quốc.

Địa lý[sửa]

Khu tự trị Tây Tạng nằm trên cao nguyên Tây Tạng, khu vực cao nguyên cao nhất trên trái đất. Tại miền bắc Tây Tạng độ cao trung bình lên tới 4572 m (15000 ft). Đỉnh Everest nằm trên biên giới giữa Tây Tạng và Nepal.

Các khu vực Tân Cương, Thanh Hải và Tứ Xuyên nằm ở phía bắc và đông của khu tự trị. Trung Quốc có tranh chấp biên giới với Ấn Độ ở phía nam bao gồm Đường McMahon tại Nam Tây Tạng, Aksai Chin ở phía tây. Các nước khác ở phía nam là Myanma, Bhutan và Nepal. Khu tự trị Tây Tạng cũng có ranh giới đông nam với tỉnh Vân Nam trên một đoạn ngắn.

Về mặt tự nhiên, Khu tự trị Tây Tạng có thể được chia thành hai phần, “khu vực hồ” ở phía tây và tây bắc và "khu vực sông", trải rộng trên ba mặt đông, nam và tây. Cả hai khu vực đều nhận được lượng mưu khiêm tốn do bị dãy Himalaya chắn ở phía nam, tuy nhiên tên các khu vực tỏ ra tương phản với điều này và cũng phản ánh các khác biệt văn hóa vì khu vực hồ là nơi sinh sống của người du cư còn khu vực sông là nơi những người làm nghề nông định cư.[4] Ranh giới phía nam là dãy núi Himalaya, phần phía bắc của nó là một hệ thống núi rộng lớn và không có các hẻm núi quá sâu để có thể tạo ra các ngọn núi riêng biệt. Các hệ thống núi tại Khu tự trị Tây Tạng là khởi nguồn của ba dòng sông lớn đổ ra Ấn Độ Dương là sông Ấn, sông Brahmaputra và sông Salween cùng các phụ lưu của chúng, ngoài ra còn có các dòng suối đổ vào các hồ muối kín ở phía bắc.

Khu vực hồ trải dài từ Hồ Pasong Tso tại Ladakh, Hồ Rakshatal, Hồ Yamdrok và Hồ Manasarovar gần khởi nguồn sông Ấn, tới nguồn của các sông Mê Kông, Salween và Trường Giang. Các hồ khác bao gồm Dagze Co, Nam Co và Pagsum Co. Khu vực hồ là một sa mạc khô cằn và lộng gió và cũng không có dòng sông nào tại đây, vùng này được gọi là Chang Tang (Byang sang) hay ‘Cao nguyên phương bắc’ bởi những người dân tại Tây Tạng. Khu vực này kéo dài khoảng 1100 km (700 mi) và có diện tích tương đương với nước Pháp. Các dãy núi chia tách các thung lũng có độc cao tương đối thấp, vùng đồng quê được tô điểm với nhiều hồ lớn nhỏ, thường là hồ muối hay kiềm. Có những vùng đất đóng băng không cố định tại Chang Tang, đất trở nên lầy lội và được bao phủ bởi cỏ, giống như các lãnh nguyên Siberi.

Khu vực sông bao gồm các thung lũng núi phí nhiêu và gồm cả sông Yarlung Tsangpo (thượng nguồn sông Brahmaputra) và các phụ lưu chính của sông này, sông Nyang, sông Salween, Trường Giang, Mê Kông và Hoàng Hà. Hẻm núi Yarlung Tsangpo tạo thành một chiếc móng ngựa trên sông gần Nam cha Barwa là hẻm núi sâu nhất và có thể là dài nhất trên thế giới.[5] Giữa các dãy núi có nhiều các thung lũng hẹp. Các thung lũng Lhasa, Shigate, Gyantse và Brahmaputra không bị đóng băng, và có chất đất tốt cũng như thuận lợ về tưới tiêu nên đã trở thành những vùng trồng trọt.

Thung lũng Nam Tây Tạng được tọa thành bởi sông Yarlung Zangbo ở đoạn sông này chảy từ tây sang đông, Thung lũng dái xấp xỉ 1200 km và rộng 300 km. Thung lũng có độc ao thấp nhất chỉ là 2800 mét so với mực nước biển. Các ngon núi ở hai bên thung lũng thường cao trên 5000 mét.[6][7] Khu vực này cũng có một số hồ như Paiku và Puma Yumco.

Nhân khẩu [sửa]Khu tự trị Tây Tạng là đơn vị hành chính cấp tỉnh có mật độ dân số thấp nhất tại Trung Quốc, chủ yếu do địa hình núi cao và hiểm trở. Năm 2000, 92,8% cư dân khu tự trị là người Tạng, dân tộc này chủ yếu theo Phật giáo Tây Tạng và Bön. Nười Hán chiếm 6,1% dân số.[8] Tuy nhiên khu tự trị đã đón nhận rất nhiều người Hán nhập cư trong các thập niên gần đây, đặc biệt là từ năm 2006 khi hoàn thành tuyến đường sắt Thanh-Tạng giúp kết nối khu tự trị với phần còn lại của Trung Quốc.[9]

Các dân tộc Hồi giáo như người Hồi và người Tát Lạp đã có một lịch sử cư trú lâu dài tại Khu tự trị Tây Tạng. Nhóm khác là người Tạng Hồi giáo, là những người Tạng nhưng có đức tin Hồi giáo và họ được chính quyền Trung Quốc phân loại là dân tộc Tạng.[10]

Các nhóm bộ tộc nhỏ hơn là Monpa và Lhoba, họ tin theo cả Phật giáo Tạng và các thần linh truyền thống. Hai dân tộc này chủ yếu sinh sống tại khu vực phía nam của khu tự trị.

Ngôn ngữ[sửa]

Ngôn ngữ chính của Tây Tạng là tiếng Tạng; trong đó có nhiều phương ngữ khác nhau, nhưng nhiều người Tây Tạng nói và hiểu tiếng phổ thông, ngoại trừ một số bộ lạc du mục ở vùng Viễn Đông Tây Tạng. Tây Tạng có liên quan chặt chẽ với Miến Điện và nhiều xa hơn để Trung Quốc. Tùy thuộc vào phương ngữ của Tây Tạng nói, nó có thể là nhiều giọng hoặc không nhiều giọng. Tại các thành phố người ta nói tiếng Trung Quốc thành thạo; trong các làng có thể người ta không hiểu gì cả. Người Hán Trung Quốc, mặt khác, thường không biết tiếng Tạng. Bảng hiệu ở Tây Tạng, bao gồm các dấu hiệu đường phố, ít nhất song ngữ - tiếng Trung Quốc và tiếng Tây Tạng - cộng với một ngôn ngữ chính địa phương khi có phương ngữ đó.

Mặc dù điều này làm cho Trung Quốc một ngôn ngữ hữu ích hơn cho du khách bằng nhiều cách, bạn nên nhớ rằng ngôn ngữ có thể là mang tính chính trị trong môi trường nhạy cảm này. Nếu bạn nói tiếng Trung Quốc ở Tây Tạng bạn đang liên kết mình với Trung Quốc, sự hiện diện của người thường phẫn nộ trong dân số dân tộc Tây Tạng, bằng chứng là các cuộc bạo loạn lan rộng khắp khu vực trong thời gian chuẩn bị cho Thế vận hội. Điều đó nói rằng, nhiều người Tây Tạng dường như để xem Trung Quốc như một hữu ích ngôn ngữ chung và một vài Tây Tạng là đủ để làm bạn với người Tây Tạng. Tây Tạng từ các vùng khác nhau của Trung Quốc kể từ khi trò chuyện trong tiếng địa phương Tây Tạng khác nhau rất nhiều mà họ không phải là ngay lập tức cùng dễ hiểu. Nếu bạn nói tiếng Tây Tạng cho cảnh sát Trung Quốc bạn sẽ làm tăng nghi ngờ rằng bạn có thể ở Tây Tạng để hỗ trợ độc lập Tây Tạng.

Có nói rằng Tây Tạng là một ngôn ngữ cực kỳ khó khăn để tìm hiểu và hầu hết những người nước ngoài yêu cầu phải biết Tây Tạng khó có thể có được bằng. Tiếng Tạng chỉ được dạy trong trường học cho đến khi học lớp 8. Vì vậy, khi nói đến văn bản, ngay cả những người Tây Tạng cũng có khó khăn và nhiều người trong thực tế không biết chữ.

Đến[sửa]

Du lịch đến Tây Tạng được kiểm soát chặt chẽ bởi chính phủ Trung Quốc, và những hạn chế còn được tiếp tục khẩn cấp hơn vào sau khi các cuộc bạo loạn và trước khi tổ chức Thế vận hội 2008. Tính đến năm 2009, du lịch "ba lô" trước đó, trong đó bao gồm giấy phép và một vài đêm ở Lhasa là không còn một lựa chọn và tất cả các du khách phải ở lại với một chuyến đi có tổ chức trong suốt thời gian họ ở Tây Tạng. Có nghĩa là bạn sẽ không được phép để đi du lịch độc lập.

Đi lại[sửa]

Xem[sửa]

Làm[sửa]

Ăn:[sửa]

đồ ăn ở Tây Tạng khá giống đồ ăn Trung Quốc

nguồn thực phẩm chủ yếu là thịt bò yak

rau quả, trái cây chủ yếu nhập từ Trung Quốc

Uống:[sửa]

Người Tạng hoặc các tu sĩ thường uống trà bơ, một loại trà muối pha với bơ (bơ được làm từ sữa bò yak Tây Tạng).

An toàn[sửa]

Tiếp theo[sửa]

Create category


Bài hướng dẫn này chỉ mới ở dạng dàn bài nên nó cần bổ sung nhiều thông tin hơn. Hãy mạnh dạn sửa đổiphát triển nó!