Châu Phi > Zimbabwe

Zimbabwe

Từ Wikivoyage
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Zimbabwe
Vị trí
LocationZimbabwe.svg
Quốc kỳ
Flag of Zimbabwe.svg
Thông tin cơ bản
Chính phủ Cộng hòa
Tiền tệ USD (trên thực tế)
Diện tích tổng cộng: 390.757 km2
nước: 3.910 km2
đất: 386.847 km2
Dân số 12,521,000 (2009 estimate)
Ngôn ngữ Tiếng Anh (chính thức), Shona (chính thức), Sindebele (official) (the language of the Ndebele), nhiều phương ngữ bộ lạc nhỏ
Tôn giáo syncretic (part Christian, part indigenous beliefs) 50%, Thiên Chúa giáo 25%, các tín ngưỡng bản địa 24%, Hồi giáo và tôn giáo khác 1%
Hệ thống điện 220/50Hz (ổ cắm Anh quốc)
Mã số điện thoại +263
Internet TLD .zw
Múi giờ UTC +2

Zimbabwe [1] (tên chính thức là: Cộng hòa Zimbabwe, phát âm: Dim-ba-bu-ê, trước đây từng được gọi là Nam Rhodesia, Cộng hòa Rhodesia và sau đó là Zimbabwe Rhodesia) là một quốc gia không giáp biển nằm ở phía nam lục địa Phi, bị kẹp giữa hai con sông Zambize và Limpopo. Zimbabwe có chung đường biên giới với các nước Nam Phi ở phía nam; Botswana ở phía tây nam; Mozambique ở phía đông và Zambia tây bắc. Zimbabwe đã được đặt tên theo thành phố được xây bằng đá nổi tiếng vào thế kỷ 14 - Đại Zimbabwe nằm ở đông nam quốc gia này. Zimbabwe nổi tiếng với thác Victoria ở trên sông Zambezi và nhiều khu bảo tồn hoang dã. Ba ngôn ngữ chính thức của quốc gia này gồm: tiếng Anh, Shona (thuộc hệ ngữ Bantu) và Ndebele.

Tổng quan[sửa]

Lịch sử[sửa]

Các thành phố đá được xây dựng ở nhiều địa điểm ở Zimbabwe ngày nay. Các cấu trúc ấn tượng nhất và nổi tiếng nhất trong số này, Đại Zimbabwe, được xây dựng trong thế kỷ 15, nhưng người đã sống trên các trang web từ khoảng 400 AD. Ruins Khami ngoài Bulawayo cũng là một ví dụ tuyệt vời.

Dân số áp đảo là người nói tiếng Shona đến thế kỷ 19 khi các bộ lạc Nguni (trong 1839-1840) của Ndebele định cư trong khu vực nay là Matabeleland, và sau đó vào năm 1890, lãnh thổ nằm dưới sự kiểm soát của Công ty Nam Phi Anh theo điều lệ từ chính phủ Anh.

Vương quốc Anh sáp nhập Rhodesia Nam từ Công ty Nam Phi Anh vào năm 1923, khi đất nước có chính phủ riêng của mình và Thủ tướng Chính phủ. Hiến pháp 1961 được ban hành trao quyền lực cho người da trắng. Năm 1965, chính phủ đơn phương tuyên bố độc lập, nhưng Vương quốc Anh đã không nhận ra hành động và đòi quyền biểu quyết đầy đủ hơn cho phần lớn châu Phi da đen. Biện pháp trừng phạt của Liên Hợp Quốc và một cuộc đấu tranh du kích cuối cùng dẫn đến cả hai cuộc bầu cử tự do và độc lập (như Zimbabwe) trong năm 1980.

Robert Mugabe là nhà lãnh đạo đầu tiên của Zimbabwe và vẫn nắm lấy quyền lực từ năm 1980 (1980-1987 với cương vị Thủ tướng, và sau đó là Tổng thống). Ban đầu ông theo đuổi một chính sách hòa giải đối với người da trắng nhưng mức độ nghiêm trọng đối với các khu vựcđã hỗ trợ một nhóm du kích cạnh tranh. Từ năm 2000, ông Mugabe đã thiết lập một chính sách phân phối lại đất đai rộng lớn và các "trại dịch vụ quốc gia", bị nghi ngờ tuyên truyền chính trị. Trong những năm gần đây, nền kinh tế đã bị sụp đổ, lạm phát đã tăng lên, nhà cửa không chính thức và các doanh nghiệp đã bị phá hủy, và có sự thiếu hụt nghiêm trọng của thực phẩm, nhiên liệu và thuốc men, cùng với sự biến mất tầng lớn chuyên nghiệp và sự nổi lên của nạn thất nghiệp hàng loạtCuộc sống đã phát triển khốn khổ cho người dân Zimbabwe của tất cả dân cư mọi màu da, và họ đã rời khỏi đất nước với số lượng lớn. Triển vọng của sự thay đổi dường như còn xa vời.

Địa lý[sửa]

Kinh tế[sửa]

Zimbabwe là nước có tiềm năng kinh tế, giàu tài nguyên thiên nhiên với crom và vàng là khoáng sản chính của nước này. Thuốc lá, bông và đường là những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Zimbabwe.

Sau độc lập, chính quyền mới chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, duy trì tốc độ phát triển, tiến hành cấp ruộng đất cho người da đen, ban hành luật lao động, định cư, nâng lương tối thiểu, xây dựng cơ sở y tế, giáo dục; thực hiện chính sách ôn hoà với người da trắng, sử dụng tay nghề, vốn, kỹ thuật và cơ cấu kinh tế, tài chính của họ nhằm duy trì sản xuất, tránh xáo trộn tình hình.

Chính quyền mới từng bước cải tạo nền kinh tế theo chiều hướng xoá dần tệ phân biệt chủng tộc, hạn chế bóc lột sức lao động. Nhà nước nắm những lĩnh vực kinh tế quan trọng như ngân hàng, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên, xuất nhập khẩu ; lập hợp tác xã nông nghiệp, xí nghiệp công nghiệp ; thực hiện tự do hoá nền kinh tế, khuyến khích khu vực tư nhân, xoá bỏ cấp giấy phép nhập khẩu, kiểm soát giá cả các mặt hàng tiêu dùng, nới lỏng quản lý trao đổi ngoại tệ để thu hút đầu tư và khuyến khích liên doanh với nước ngoài. Tranh thủ vốn đầu tư, kỹ thuật và viện trợ của các nước để duy trì hoạt động của nền kinh tế. Xúc tiến hợp tác khu vực, xây dựng ống dẫn dầu qua cảng Becca, Maputo của Mozambique, phục hồi đường sắt vận chuyển qua các nước, từng bước tăng quan hệ kinh tế hợp tác với châu Phi.

Zimbabwe tích cực tham gia đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế thế giới mới, thúc đẩy hợp tác Nam - Nam, hợp tác khu vực.

Xuất khẩu khoáng chất, nông nghiệp, và du lịch là những nguồn thu ngoại tệ chính của Zimbabwe.[78] Lĩnh vực khai mỏ vẫn mang lại nhiều lợi nhuận, với một số trữ lượng platinum lớn nhất thế giới đang được khai thác bởi Anglo-American và Impala Platinum.[79] Zimbabwe là đối tác thương mại lớn nhất của Nam Phi trên lục địa châu Phi.[80]

Vùng[sửa]

Map of Zimbabwe
Matabeleland
Phía tây của đất nước với Bulawayo, thành phố lớn thứ hai, và các cảnh quan tuyệt đẹp thác Victoria.
Hồ Kariba và Hạ Zambezi
Cuối phía đông của Hồ Kariba là một khu vực nghỉ mát nổi tiếng cho Zimbabwe. Nhiều vườn quốc gia, chẳng hạn như vườn quốc gia Mana Pools, nằm ​​trên bờ sông Zambezi và tạo cơ hội tốt để xem thú săn.
Mashonaland
The capital city, Harare, and surrounding area, including the northern part of the Midlands.
Eastern Highlands
The mountainous area of the country tucked up along the eastern border. The main city is Mutare.
Southeastern Zimbabwe
Một khu vực hỗn hợp với phần phía nam của vùng trung du phía Bắc và Lowveld ở phía nam. Thiên nhiên là nhiều hơn sự hấp dẫn đây, với nhiều vườn quốc gia và di tích Đại Zimbabwe.

Thành phố[sửa]

  • Harare - Thủ đô và thành phố lớn nhất ở Zimbabwe.
  • Binga - Một trong những tiền đồn của Zimbabwe, với những con đường tiếp cận hạn chế.
  • Bulawayo - Vốn công nghiệp và kinh doanh của Zimbabwe.
  • Gweru
  • Kariba - Ngày biên giới giữa Zimbabwe và Zambia.
  • Marondera
  • Masvingo - Tự hào Đài tưởng niệm quốc gia Đại Zimbabwe.
  • Mutare

Các điểm đến khác[sửa]

Đến[sửa]

Bằng đường hàng không[sửa]

Bằng tàu hỏa[sửa]

Bằng ô-tô[sửa]

Bằng buýt[sửa]

Bằng tàu thuyền[sửa]

Đi lại[sửa]

Ngôn ngữ[sửa]

Shona, Ndebele và tiếng Anh là những ngôn ngữ chính của Zimbabwe. Dù tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, chưa tới 2.5%, chủ yếu là các cộng đồng da trắng và da màu (người lai), coi nó là tiếng mẹ đẻ của mình. Số dân cư còn lại nói các ngôn ngữ Bantu như Shona (76%), Ndebele (18%) và các ngôn ngữ thiểu số khác của Venda, Tonga, Shangaan, Kalanga, Sotho, Ndau và Nambya.[119] Shona có một truyền thống truyền khẩu giàu có, đã được đưa vào trong tiểu thuyết Shona đầu tiên, Feso của Solomon Mutswairo, được xuất bản năm 1956.[120] Tiếng Anh chủ yếu được sử dụng tại các thành phố, ít thấy ở các vùng nông thôn. Đài phát thanh và vô tuyến được phát bằng tiêng Shona, Ndebele và tiếng Anh.

Mua sắm[sửa]

Chi phí[sửa]

Thức ăn[sửa]

Như nhiều quốc gia châu Phi khác, đa số dân Zimbabweans sống dựa vào một số loại thực phẩm chính. Thịt, thịt bò và ở một mức độ thấp hơn là thịt gà là những nguyên liệu đặc biệt phổ thông, dù mức tiêu thụ đã sụt giảm dưới chính quyền Mugabe vì mức thu nhập giảm.[cần dẫn nguồn] "Bột Mealie", cũng được gọi là bột ngô, được dùng chế biến món sadza hay isitshwala và bota hay ilambazi. Sadza là một món cháo đặc được làm bằng cách trộn bột ngô với nước để tạo ra một một thứ bột nhão và đặc. Sau khi bột đã được nấu một thời gian, người ta thêm bột ngô nữa để món cháo thêm đặc. Món này thường được ăn như bữa trưa và bữa tối, thường với các loại rau (như rau bina, chomolia, collard greens), đậu và thịt hầm, nướng, hay quay. Sadza cũng là một món phổ thông được dùng với sữa đông, thường được gọi là lacto (mukaka wakakora), hay Tanganyika sardine khô, tại Zimbabwe được gọi là kapenta hay matemba. Bota là một loại cháo ít đặc hơn, được nấu mà không cho thêm bột ngô và thường được thêm bơ đậu phộng, sữa, bơ, hay, thỉnh thoảng, mứt.[157] Bota thường được dùng như bữa sáng.

Các buổi lễ tốt nghiệp, cưới xin, và nhiều dịp tụ tập gia đình khác thường được ăn mừng với việc giết một chú dê hay bò, và thịt sẽ được các thành viên gia đình nướng nguyên con hay quay.

Các loại thực đơn của người Afrikaner khá phổ biến dù họ chỉ là một nhóm nhỏ (0.2%) bên trong cộng đồng da trắng. Biltong, một kiểu thịt bò khô, là một món ăn nhẹ phổ biến, được làm bằng cách treo các miếng thịt đã ướp để khô trong bóng râm.[158] Boerewors (Afrikaans pronunciation: [børəvɞɾs]) được dùng với sadza. Đây là một loại xúc xích dài, thường được tẩm nhiều gia vị, chứa nhiều thịt bò hơn thịt lợn và được nướng lên.

Bởi Zimbabwe từng là một thuộc địa của Anh, nước này đã du nhập một số thói quen Anh Quốc. Ví dụ, hầu hết người dân sẽ ăn cháo đặc vào buổi sáng, tuy nhiên họ vẫn sẽ có bữa trà vào 10 giờ (trà trưa). Họ sẽ ăn trưa, có thể là đồ còn lại từ bữa tối hôm trước, sadza nấu mới, hay sandwiches (rất phổ biến trong các thành phố). Sau bữa trưa họ thường có bữa trà lúc 4 giờ chiều trước bữa tối. Thường họ không uống trà sau bữa tối.

Đồ uống[sửa]

Chỗ nghỉ[sửa]

Học[sửa]

Làm[sửa]

An toàn[sửa]

Y tế[sửa]

Tôn trọng[sửa]

Liên hệ[sửa]


Bài hướng dẫn này chỉ mới ở dạng dàn bài nên nó cần bổ sung nhiều thông tin hơn. Hãy mạnh dạn sửa đổiphát triển nó!