Châu Âu > Thụy Điển

Thụy Điển

Từ Wikivoyage
Jump to navigation Jump to search


Thụy Điển
Vị trí
LocationSweden.png
Quốc kỳ
Flag of Sweden.svg
Thông tin cơ bản
Thủ đô Stockholm
Chính phủ Cộng hòa đại nghị và quân chủ lập hiến
Tiền tệ Krona Thụy Điển (SEK)
Diện tích tổng cộng: 450.295 km2
nước: 39,960 km2
đất: 410,335 km2
Dân số 9.555.893 (điều tra năm 2012)
Ngôn ngữ tiếng Thụy Điển, cộng đồng thiểu số nói tiếng Phần Lan
Tôn giáo 23% hữu thần (chủ yếu Lutheran với thiếu số Hồi giáo và Công giáo), 76% non-theist (including 23% atheist)
Hệ thống điện 230V/50Hz (ổ cắm châu Âu)
Mã số điện thoại +46
Internet TLD .se
Múi giờ UTC +1

Thuỵ Điển là một quốc gia ở bán đảo Scandinavia. Thủ đô đóng ở Stockholm. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Thuỵ Điển. Thuỵ Điển giáp giáp Na Uy ở phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Öresund ở phía Nam, phần biên giới còn lại giáp Biển Baltic và Biển Kattegat.

Tổng quan[sửa]

Thuỵ Điển (tiếng Thụy Điển: Sverige), quốc danh hiện tại là Vương quốc Thuỵ Điển (Konungariket Sverige) bằng tiếng Thụy Điển) là một vương quốc ở Bắc Âu giáp Na Uy ở phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Öresund ở phía Nam, phần biên giới còn lại giáp Biển Baltic và Biển Kattegat.

Với diện tích 449 964 km², Thuỵ Điển là nước lớn thứ ba trong Liên minh Châu Âu, với dân số 9.4 triệu người. Thuỵ Điển có mật độ dân số thấp với 21 người/ km² nhưng lại tập trung cao ở nửa phía Nam của đất nước. Khoảng 85% dân số sống ở thành thị và theo dự đoán con số này sẽ tăng dần vì quá trình đô thị hóa đang diễn ra. Thủ đô của Thụy Điển là Stockholm, đây cũng là thành phố lớn nhất nước. Thành phố lớn thứ hai là Göteborg với dân số khoảng 500.000 người và 900.000 người trên tổng vùng. Thành phố lớn thứ ba là Malmö với dân số khoảng 260.000 người và 650.000 người ở tổng vùng.

Đất nước Thuỵ Điển độc lập và thống nhất nổi lên vào thời Trung Cổ. Vào thế kỷ 17 Thuỵ Điển mở rộng lãnh thổ và tạo nên Đế quốc Thụy Điển. Hầu hết lãnh thổ ngoài bán đảo Scandinavia bị mất vào thế kỷ 18 và 19. Nửa phía Đông của Thuỵ Điển, Phần Lan ngày nay, rơi vào tay Đế quốc Nga năm 1809. Cuộc chiến tranh cuối cùng Thuỵ Điển tham gia trực tiếp vào năm 1814, khi Thuỵ Điển sử dụng quân sự ép Na Uy nhập vào Liên minh Thuỵ Điển và Na Uy, một liên minh tồn tại đến tận năm 1905. Kể từ đó, Thuỵ Điển là một nước hòa bình, áp dụng chính sách đối ngoại không liên kết vào thời bình và chính sách trung lập thời chiến.

Ngày nay, Thuỵ Điển là một nước quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị và một nền kinh tế phát triển cao. Thuỵ Điển đứng đầu về chỉ số dân chủ trên thế giới theo tạp chí The Economist và đứng thứ bảy trong Liên hiệp quốc về chỉ số phát triển con người. Thuỵ Điển là thành viên của Liên minh Châu Âu vào năm 1995 và là thành viên của OECD.

Lịch sử[sửa]

Vào cuối thời kỳ băng hà (khoảng 12.000 TCN) những người đầu tiên đã bắt đầu di dân đến các vùng ven biển bằng đường bộ ở giữa Đức và Scania (miền Nam của Thuỵ Điển ngày nay). Các di chỉ khảo cổ lâu đời nhất có niên đại vào khoảng 13.000 năm trước đây được tìm thấy ở vùng Scania. Khi con đường bộ này biến mất vào khoảng 5.000 năm TCN miền trung và vùng ven biển của Thụy Điển đã có dân cư. Cũng theo các di chỉ khảo cổ, trong thời gian từ Công Nguyên cho đến năm 400 đã có một nền thương mại phát đạt với Đế quốc La Mã. Vùng Scandinavia được nhắc đến lần đầu tiên trong các văn kiện của La Mã từ năm 79 như trong Naturalis Historiae của Gaius Plinius Secundus hay trong De Origine et situ Germanorum của Gaius Cornelius Tacitus.

Đầu thế kỷ 11 vương quốc này là một liên minh lỏng lẻo của các vùng tự trị với các hội đồng, luật lệ và tòa án riêng biệt, chỉ được liên kết với nhau qua cá nhân của vị vua có quyền lực tương đối ít. Vương quốc thật ra được thành lập trong thời kỳ Trung Cổ, giữa năm 1000 và 1300, đồng thời với việc theo đạo Thiên Chúa. Sau năm 1000 danh hiệu vua bắt đầu thành hình ở Götaland (miền nam Thuỵ Điển) và ở Svealand (miền trung Thuỵ Điển). Ban đầu chức vị này thường hay bị tranh cãi, không bền vững và thường chỉ có tầm quan trọng trong vùng. Dưới thời của Birger Jarl, người có quan hệ mật thiết với anh rể của ông là vua Erik Eriksson, bắt đầu có những cải cách xã hội và chính trị rộng lớn, mang lại một quyền lực tập trung và một xã hội được tổ chức theo gương của các quốc gia phong kiến Châu Âu.

Năm 1388 nữ hoàng Đan Mạch Margarethe I được một phái quý tộc chống đối công nhận là người trị vì Thuỵ Điển. Năm 1397 cháu của Margarethe là Erik của Pommern lên ngôi vua trị vì 3 vương quốc Đan Mạch, Na Uy và Thuỵ Điển, thành lập Liên minh Kalma.


Trận Poltava năm 1709.Năm 1611, sau khi vua cha qua đời, Gustav II Adolf lên ngôi lúc 17 tuổi, bắt đầu thời kỳ Thuỵ Điển vươn lên trở thành cường quốc. Ông tham chiến trong nhiều cuộc chiến tranh thời đó. Vào năm 1700, ba nước láng giềng là Đan Mạch, Ba Lan và Nga mở đầu cuộc Đại chiến Bắc Âu (1700-1721) chống lại Thuỵ Điển. Vua Karl XII của Thụy Điển lần lượt đánh tan tác quân Đan Mạch, quân Nga và cả quân Ba Lan. Nhưng vào năm 1709, một vị vua lớn trong lịch sử Nga là Pyotr Đại Đế đánh tan tác quân Thuỵ Điển bị trong trận Poltava (1709). Vua Karl XII chết vào năm 1718, và rồi Thuỵ Điển không còn là cường quốc nữa, mất đất về tay Đế quốc Nga và Vương quốc Phổ. Tuy thế, chính phủ Thuỵ Điển vẫn mong muốn lập lại vai trò liệt cường của đất nước. Họ đẩy đất nước vào cuộc chiến tranh với quân Nga trong thập niên 1740, kết quả là quân Thuỵ Điển lại bại trận. Từ đó, Nga hoàng càng can thiệp vào nội bộ Thụy Điển Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), Thuỵ Điển tham chiến trong liên quân Áo - Pháp - Nga, để đánh nước Phổ với mong muốn giành lại tỉnh Pomerania. Nhưng một vị vua lớn trong lịch sử Phổ là Friedrich II Đại Đế đã đấu tranh anh dũng, sau cùng liên quân dần dần tan rã và quân Thuỵ Điển cũng phải rút lui.


Vua Karl XIV Johan tranh vẽ của Fredric WestinTrong cuộc cuộc chiến chống Nga (1788 - 1790) của vua Gustav III, Quân đội Thuỵ Điển gặt không ít rắc rối và cũng chẳng nhận được một vùng đất nào.. Không những vậy, cuộc chiến tranh chống Napoléon của vua Gustav IV Adolf còn gây cho Thuỵ Điển nhiều thiệt hại hơn. Do Nga hoàng Aleksandr I lúc đó liên minh với "tên phản Chúa" Napoléon (1807), quân Nga đánh đuổi quân Thuỵ Điển ra khỏi xứ Phần Lan, và điều này khiến một nhóm quý tộc Thuỵ Điển nổi điên lật đổ vua Gustav II Adolf vào năm 1809. Vào năm 1813, Thụy Điển tham chiến trong liên quân chống Pháp - một liên minh có cả Nga và Phổ; sau khi Hoàng đế Napoléon đại bại trong trận Leipzig, vua Karl XIV Johan còn lâm chiến với Đan Mạch. Trong Hiệp ước Kiel năm 1814 Đan Mạch bắt buộc phải nhượng Na Uy để đổi lại phần đất Vorpommern của Thuỵ Điển. Khi Na Uy tuyên bố độc lập sau đó, trong một cuộc chiến ngắn ngủi và gần như không đổ máu vua Karl XIV Johan đã thành công trong việc ép buộc thành lập liên minh Thuỵ Điển – Na Uy mà trong đó Na Uy vẫn là một vương quốc riêng biệt. Sau cuộc chiến tranh cuối cùng này Karl XIV Johan đã áp dụng một chính sách hòa bình nhất quán, là cơ sở cho nền trung lập của Thuỵ Điển. Thời gian 200 năm hòa bình của Thuỵ Điển tính từ thời điểm này cho đến nay là độc nhất trên toàn thế giới ngày nay.

Dân số Thuỵ Điển tăng rõ rệt trong thế kỷ 19, từ năm 1750 đến 1850 dân số đã tăng gấp đôi. Nhiều người ở vùng nông thôn, là nơi cư ngụ của đa phần người dân, không có việc làm, đi đến nghèo nàn và nghiện rượu. Vì thế trong thời gian từ 1850 đến 1910 đã có một cuộc di dân lớn mà chủ yếu là đến Mỹ. Mặc dầu vậy khi cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu tiến triển tại Thuỵ Điển, người dân từng bước gia nhập vào thành phố và tổ chức các công đoàn xã hội chủ nghĩa. Một cuộc cách mạng của những người theo chủ nghĩa xã hội đang đe dọa xảy ra được tránh khỏi vào năm 1917, sau đó là việc tái thành lập chế độ nghị viện và quốc gia này trở thành dân chủ.

Trong thế kỷ 20, Thuỵ Điển trung lập trong Đệ nhất thế chiến và Đệ nhị thế chiến, mặc dầu là sự trung lập của quốc gia này trong Đệ nhị thế chiến vẫn còn bị tranh cãi. Thuỵ Điển tiếp tục trung lập trong cuộc Chiến tranh lạnh và cho đến ngày nay vẫn không là thành viên của một liên minh quân sự nào. Sau Đệ nhị thế chiến nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và không bị tàn phá Thuỵ Điển đã có thể phát triển ngành công nghiệp cung cấp cho công cuộc tái xây dựng Châu Âu và vì thế trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất trên thế giới vào thập niên 1960. Khi các nền kinh tế khác bắt đầu vững mạnh Thuỵ Điển tuy đã bị vượt qua vào thập niên 1970 nhưng vẫn thuộc về các quốc gia đứng đầu về mặt hạnh phúc của người dân.

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Thuỵ Điển gia nhập Liên Hợp Quốc, tháng 11 năm 1959 gia nhập Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA). Dưới triều vua Gustavus V (1907-1950), kinh tế phát triển thịnh vượng chưa từng có. Thuỵ Điển duy trì tính trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ I. Một lần nữa, Thuỵ Điển vẫn giữ vai trò trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ II. Đảng Dân chủ xã hội liên tục cầm quyền dưới thời Thủ tướng Per Albin Hasson (1932-1946), Thủ tướng Tage Erlander (1946- 1969). Kinh tế vẫn phát triển và mô hình Thuỵ Điển tiếp tục được củng cố. Tuy nhiên, dưới thời Thủ tướng Olof Palme (1969- 1979), Chính phủ phải đương đầu vớị cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Năm 1976, phe bảo thủ lên cầm quyền. Năm 1982, O. Palme trở lại giữ chức Thủ tướng. Palme bị Ám sát năm 1986, Ingvar Carlsson trở thành người kế nhiệm. Năm 1991, lãnh đạo phe bảo thủ, Carl Bildt, trở thành Thủ tướng. Năm 1994, Đảng Dân chủ Xã hội trở lại cầm quyền. Năm 1995, Thuỵ Điển gia nhập Liên hiệp Châu Âu, nhưng từ chối thông qua việc sử dụng đồng euro năm 1999.

Vùng[sửa]

Các vùng của Thuỵ Điển
Norrland
các khu vực phía bắc dân cư thưa thớ (trải dài hơn một nửa tổng diện tích cả nước), với chín tỉnh. Rất nhiều hoang dã, với rừng, hồ, sông lớn, đầm lầy khổng lồ và núi cao dọc theo biên giới để Na Uy. Tuyệt vời cho đi bộ đường dài và thể thao mùa đông. Thành phố lớn nhất là Gävle, Sundsvall, UmeåLuleå.
Svealand
phần trung bộ của đất nước, bao gồm Stockholm, Uppsala và các tỉnh Dalarna, Närke, Värmland, Södermanland, UpplandVästmanland.
Götaland
bao gồm trong mười tỉnh ở phía Nam của đất nước, bao gồm các đảo (và các tỉnh) của ÖlandGotland. Các thành phố lớn nhất trong Götaland là GothenburgVästergötlandMalmöSkåne.

Thành phố[sửa]

  • Stockholm, thủ đô, thành phố lớn nhất, trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của Thụy Điển.
  • Gothenburg ( Göteborg) - một cảng và thành phố công nghiệp trên bờ biển phía tây, lớn thứ hai về kích thước
  • Kiruna - một thành phố khai thác mỏ ở Lappland, và các thành phố ở cực Bắc của Thụy Điển
  • Linköping - thành phố đông dân thứ 5 của Thụy Điển, và một thành phố đại học
  • Luleå - thành phố cảng và công nghiệp ở miền bắc Norrland, với một trường đại học kỹ thuật
  • Malmö - kết nối với thủ đô Copenhagen của Đan Mạch bằng cầu Öresund
  • Örebro - trung tâm sản xuất giày cũ nằm giữa Stockholm và Oslo
  • Umeå - thành phố đại học trong Norrland
  • Uppsala - thành phố đại học sống động, thành phố lớn thứ tư ở Thụy Điển
  • Västerås - trung tâm của công nghiệp Thụy Điển

Các điểm đến khác[sửa]

  • Abisko là một vườn quốc gia ở cạnh phía bắc của Thụy Điển.
  • Bohuslän là khu vực khai thác ngư nghiệp lớn nhất của Thụy Điển, phong phú về động vật hoang dã trên biển.
  • Ekerö là một quần đảo nước ngọt Drottningholm nơi cư trú của gia đình Hoàng gia Anh, và khu định cư thời Viking Birka.
  • Laponia là hoang dã lớn nhất Tây Âu, trong vùng núi phía bắc.
  • Siljansbygden là một nguyên mẫu của văn hóa dân gian của Thụy Điển trong trung tâm Dalarna.
  • Quần đảo Stockholm bao gồm các hòn đảo tất cả các hình dạng và kích cỡ.
  • Salen là một khu nghỉ mát trượt tuyết nổi tiếng với sự bắt đầu của Vasaloppet.
  • Ystad là một thị trấn bờ sông đẹp như tranh vẽ, được biết đến từ xê ri Wallander .
  • Åre là một trong những khu nghỉ mát trượt tuyết lớn nhất của Thụy Điển, với 44 thang máy.
  • Öland là hòn đảo lớn thứ hai của Thụy Điển, với những bãi biển dài.

Đến[sửa]

Nhập cảnh[sửa]

Thụy Điển là một thành viên của Hiệp ước Schengen. Không có kiểm soát biên giới giữa các quốc gia đã ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế - Liên minh Châu Âu (ngoại trừ Bulgaria, Síp, Ireland, Romania và Vương quốc Anh), Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sĩ. Tương tự như vậy, thị thực được cấp cho bất kỳ thành viên Schengen có giá trị trong tất cả các nước khác đã ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế. Nhưng hãy cẩn thận: không phải tất cả các thành viên EU đã ký hiệp ước Schengen, và không phải tất cả các thành viên trong khối Schengen là một phần của Liên minh Châu Âu. Điều này có nghĩa rằng có thể có vị trí kiểm tra hải quan nhưng không có kiểm tra xuất nhập cảnh (đi du lịch trong khối Schengen nhưng đến / từ một quốc gia không thuộc EU) hoặc bạn có thể phải rõ ràng nhập cư nhưng không hải quan (đi du lịch trong EU nhưng đến / từ một không Schengen nước).

Các sân bay ở Châu Âu do đó chia thành khu vực "Schengen" và "không Schengen", trong đó trên thực tế có vai trò như "nội địa" và phần "quốc tế" ở nơi khác. Nếu bạn đang bay từ bên ngoài Châu Âu thành một nước thuộc khối Schengen và tiếp tục khác, bạn sẽ rõ ràng xuất nhập cảnh và hải quan tại quốc gia đầu tiên và sau đó tiếp tục đến đích của bạn không có kiểm tra thêm. Đi lại giữa các thành viên trong khối Schengen và một nước không thuộc khối Schengen sẽ dẫn đến việc kiểm tra biên giới bình thường. Lưu ý rằng bất kể bạn đang đi du lịch trong khu vực Schengen hay không, nhiều hãng hàng không vẫn sẽ nhấn mạnh khi nhìn thấy thẻ ID của bạn hoặc hộ chiếu.

Công dân của EU và EFTA (Iceland, Liechtenstein, Na Uy, Thụy Sĩ) nước chỉ cần một chứng minh thư quốc gia hợp lệ hoặc hộ chiếu nhập cảnh - trong trường hợp không họ sẽ cần phải có thị thực cư trú lâu lúc nào bất kỳ.

Dân của các nước không phải EU/EFTA thường sẽ cần một hộ chiếu nhập cảnh vào một nước thuộc khối Schengen và hầu hết sẽ cần visa.

Chỉ có công dân của các nước không phải EU/EFTA sau đây không cần phải có thị thực nhập cảnh vào khu vực Schengen: Albania *, Andorra, Antigua và Barbuda, Argentina, Úc, Bahamas, Barbados, Bosnia và Herzegovina *, Brazil, Brunei, Canada, Chile, Costa Rica, Croatia, El Salvador, Guatemala, Honduras, Israel, Nhật Bản, Macedonia *, Malaysia, Mauritius, Mexico, Monaco, Montenegro *, New Zealand, Nicaragua, Panama, Paraguay, Saint Kitts và Nevis, San Marino , Serbia * / **, Seychelles, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan *** (Trung Hoa Dân Quốc), Hoa Kỳ, Uruguay, Vatican City, Venezuela, bổ sung người có chức Quốc gia Anh (ở nước ngoài), Hồng Kông hay Macao. Những khách không thuộc quốc tịch EU/EFTA miễn thị thực có thể không được ở lại quá 90 ngày trong một khoảng thời gian 180 ngày trong khu vực Schengen tổng cộng, nói chung, không thể làm việc trong thời gian nghỉ (mặc dù một số nước trong khối Schengen không cho phép một số người có quốc tịch nhất định làm việc - xem dưới đây). Người ta tính ngày từ khi bạn nhập bất kỳ nước nào trong khu vực Schengen và không thiết lập lại bằng cách rời một nước thuộc khối Schengen cụ thể cho một nước thuộc khối Schengen, hoặc ngược lại. Tuy nhiên, công dân New Zealand có thể ở lại quá 90 ngày nếu họ chỉ thăm các nước thuộc khối Schengen đặc biệt.

Bằng đường hàng không[sửa]

Để biết thông tin thời gian đến và đi của các chuyến bay, cũng như rất nhiều thông tin khác về các chuyến bay và các sân bay ở Thụy Điển, hãy truy cập Luftfartsverket -Sân bay Thụy Điển và Dịch vụ Vận tải Hàng không [1]

Sân bay lớn:

  • Arlanda Stockholm (IATA: ARN) (ICAO: ESSA) [2] - phục vụ các hãng hàng không lớn nhất. Xem Sigtuna cho các cơ sở tiện ích sân bay, và Stockholm để biết thông tin về chuyển giao giữa các sân bay và trung tâm Stockholm.
  • Landvetter Göteborg (IATA: GOT) (ICAO: ESGG) [3] - phục vụ một số hãng hàng không quốc tế và cung cấp xe buýt thuận tiện chuyển giao (~ 20 phút) để trung tâm Gothenburg.
  • Copenhagen Kastrup (Đan Mạch) (IATA: CPH) (ICAO: EKCH) [4] - phục vụ hãng hàng không lớn nhất. Tọa lạc trên một hòn đảo giữa CopenhagenMalmö và là lý tưởng để đi du lịch ở miền nam Thụy Điển. Kết nối tàu khởi hành từ sân bay đến cả hai thành phố.

Sân bay nhỏ hơn:

  • Stockholm Skavsta (IATA: NYO) (ICAO: ESKN) [5] - sân bay cho các hãng hàng không giá vé thấp như Ryanair [6] và Wizzair [7]. Nằm khá xa (khoảng 100 km) từ Stockholm, gần thị trấn Nyköping.
  • Stockholm Västerås (IATA: VST) (ICAO: ESOW) [8] - các chuyến bay quốc tế đi / đến Copenhagen và London. Cũng khoảng 100 km từ Stockholm.
  • Sân bay thành phố Göteborg (IATA: GSE) (ICAO: ESGP) [9] - nằm chỉ 14 km từ trung tâm Gothenburg, sân bay này được sử dụng bởi Ryanair, Wizzair và Germanwings [10].
  • Malmö-Sturup (IATA: MMX) (ICAO: ESMS) [11] - phục vụ các chuyến bay trong nước và giá vé các chuyến bay thấp. Nằm khoảng 30 km từ Malmö.

Hầu hết các sân bay có thể đến được bằng cách đón xe Flygbussarna - xe khách sân bay [12] vé khoảng 70 đến 100 SEK. Đến sân bay Copenhagen tốt nhất bằng tàu hỏa. Xem Skånetrafiken [13] cho lịch trình.

Bằng tàu hỏa[sửa]

Bạn có thể đến Thụy Điển bằng xe lửa từ ba nước khác:

  • Đan Mạch: Xe lửa khởi hành Copenhagen và sân bay Copenhagen cho Malmö mỗi 20 phút, và chỉ có giá khoảng 100 SEK ("Öresundståg / Øresundstog" xe lửa khu vực). Tàu đi qua tuyệt vời Öresund cầu để có được Thụy Điển trong vòng chưa đầy 30 phút. Hơn nữa xe lửa trực tiếp (X2000) để từ Copenhagen đến Stockholm. Các Elsinore - Helsingborg kết nối, được biết đến như một trong những tuyến đường phà bận rộn nhất ở châu Âu, cũng có thể được sử dụng (thay đổi tàu).
  • Đức: Berlin đi Malmö với "Berlin Night Express". Cũng có một số chuyến tàu mỗi ngày từ Hamburg đến Copenhagen, và các chuyến tàu đêm từ München, Basel, Köln và Amsterdam đến Copenhagen.
  • Phần Lan: Đi qua Kemi - Tornio - Haparanda - Luleå / Boden bằng xe buýt. Vé Interrail có giá trị trên xe buýt. Không có kết nối tàu do Phần Lan và Thụy Điển sử dụng khổ đường ray khác nhau.

Bằng ô-tô[sửa]

Bằng buýt[sửa]

The Öresund Bridge connects Sweden to Denmark.

Bằng tàu thuyền[sửa]

Đi lại[sửa]

Ngôn ngữ[sửa]

Ngôn ngữ phổ thông gần khắp mọi nơi là tiếng Thụy Điển. Tiếng Na Uy cũng được hiểu gần như khắp mọi nơi vì rất tương tự như tiếng Thụy Điển. Một số vùng nói tiếng Phần Lan và tiếng Sami.

Tại Thụy Điển, tiếng Phần Lan, tiếng Meänkieli, tiếng Jiddisch, tiếng Romani và tiếng Sami có địa vị là các ngôn ngữ thiểu số được công nhận. Gần 80% người Thụy Điển nói tiếng Anh như là ngoại ngữ vì một phần tiếng Anh là ngoại ngữ đầu tiên trong trường học và phần khác là vì tiếng Anh có rất nhiều trong chương trình truyền hình. Đa số học sinh chọn tiếng Đức là ngoại ngữ thứ nhì, nhưng gần đây tiếng Tây Ban Nha đang được ưa chuộng và đã vượt qua tiếng Đức tại một số trường. Thật ra tiếng Đức là ngoại ngữ đầu tiên tại Thụy Điển cho đến năm 1950 cũng như trong phần còn lại của Bắc Âu.

Mua sắm[sửa]

Chi phí[sửa]

Thức ăn[sửa]

Ẩm thực Thụy Điển chủ yếu là món thịt, cá với khoai tây, xuất phát từ những ngày khi người ta cần phải chặt gỗ cả ngày. Bên cạnh đó khoai tây phổ biến, ẩm thực Thụy Điển hiện đại là một mức độ lớn dựa trên các loại bánh mì. Món ăn truyền thống hàng ngày được gọi là husmanskost. Chúng bao gồm:

  • Thịt viên ( köttbullar), món ăn Thụy Điển nổi tiếng trên thế giới. Món này thành phần chính gồm thịt, khoai tây, nước sốt màu nâumứt quả ỏng ảnh.
  • Món băm (pytt i panna) bao gồm thịt, hành tây và khoai tây, tất cả thái nhỏ và rán. Củ cải thái lát và một chiên hoặc luộc trứng cả những phụ liệu bắt buộc.
  • Xúp đậu (ärtsoppa) với thịt lợn thái hạt lựu, tiếp theo là món bánh mỏng (crepes). Truyền thống ăn vào thứ Năm từ thời trung cổ khi công có một nửa số ngày nghỉ vì nó là một bữa ăn dễ dàng để chuẩn bị. Một số nhà hàng ăn trưa tại Thụy Điển sẽ phục vụ súp và bánh mỗi thứ năm.
  • Cá trích ngâm (sill), dùng trong các loại nước sốt. Thường được ăn kèm với bánh mì hoặc khoai tây cho bữa ăn trưa mùa hè hoặc như là một khởi đầu. Hầu như bắt buộc ở giữa mùa hè và rất phổ biến cho Giáng sinh.
  • Blodpudding, xúc xích đen làm bằng huyết và bột mỳ. Cắt nó, xào và ăn nó với mứt quả ỏng ảnh.
  • Gravlax, một món khai vị lạnh được biết đến rộng rãi và đánh giá cao do lát mỏng cá hồi ướp muối, đường và thì là.
  • Falukorv, một món xúc xích hun khói từ Falun. Một trong những cách ăn phổ biến nhất của món này là thái lát, chiên và sau đó phục vụ với sốt cà chua và khoai tây nghiền.
  • Thụy Điển có nhiều loại bánh mì hơn hầu hết các nước khác. Nhiều trong số đó là ngũ cốc nguyên hạt hoặc hỗn hợp ngũ cốc, có chứa lúa mì, lúa mạch, yến mạch, nhỏ gọn và giàu chất xơ. Một số ví dụ đáng chú ý là tunnbröd (bánh mì bọc mỏng), knäckebröd (bánh mì cứng - có thể không phải là một kinh nghiệm thú vị, nhưng gần như là luôn có sẵn), và các loại khác nhau của bánh dày dạn. Bánh mì là chủ yếu ăn như bánh mì đơn giản, với những lát mỏng pho mát hoặc thịt nguội. Một số lây lan kỳ lạ hơn là messmör (bơ sữa) và leverpastej (pa tê gan).
  • Tunnbrödrulle, một món ăn thức ăn nhanh, bao gồm một bọc bánh mì với khoai tây nghiền, một con chó nóng và một số loại rau.
  • Kroppkakor bánh bao khoai tây nhồi với thịt lợn thái hạt lựu.
  • Pho mát cứng Ost. Người Thụy Điển ăn rất nhiều pho mát cứng. Trong một thị trường thực phẩm thông thường bạn thường có thể tìm thấy từ 10 đến 20 loại khác nhau của pho mát. Pho mát cứng nổi tiếng nhất của Thụy Điển sẽ được Västerbotten, đặt theo tên của một khu vực ở Thụy Điển.

Đồ uống[sửa]

Chỗ nghỉ[sửa]

Học[sửa]

Làm[sửa]

An toàn[sửa]

Y tế[sửa]

Tôn trọng[sửa]

Liên hệ[sửa]


Bài hướng dẫn này chỉ mới ở dạng dàn bài nên nó cần bổ sung nhiều thông tin hơn. Hãy mạnh dạn sửa đổiphát triển nó!