Thổ Nhĩ Kỳ

Từ Wikivoyage
Châu Âu > Thổ Nhĩ Kỳ
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm


Thổ Nhĩ Kỳ
Vị trí
LocationTurkey.png
Quốc kỳ
Flag of Turkey.svg
Thông tin cơ bản
Thủ đô Ankara
Chính phủ Cộng hoà nghị viện
Tiền tệ Türk Lirası/Turkish Lira (TRY)
Diện tích tổng: 783.562 km2
nước: 13.930 km2
đất: 769,632 km2
Dân số 73.193.000 (ước tính 2006)
Ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ (chính thức); Kurdish, Zaza, Ả Rập, Azeri, Laz
Tôn giáo Đa số Hồi giáo (đa số Sunni và thiểu số Alevi) với một cộng đồng nhỏ theo công giáo Đông Rite, Jews, agnostics, và atheists
Hệ thống điện 220V/50Hz (ổ cắm châu Âu)
Mã số điện thoại +90
Internet TLD .tr
Múi giờ UTC +2

Thổ Nhĩ Kỳ quốc danh hiện tại là Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ, là một nước nằm trên cả lục địa Âu-Á phần lãnh thổ chính tại bán đảo Anatolia phía Tây Nam châu Á, một phần nhỏ diện tích ở vùng Balkan phía Đông Nam Châu Âu.

Tổng quan[sửa]

Thổ Nhĩ Kỳ có chung biên giới với: Bungary ở phía tây bắc; Hy Lạp phía tây; Gruzia, Armenia và phần Nakhichevan của Azerbaijan ở phía đông bắc; Iran phía đông; Iraq và Syria phía đông nam. Ngoài ra, nước này còn có biên giới với Biển Đen ở phía bắc; Biển Aegae và Biển Marmara phía tây; Địa Trung Hải phía nam. Danh xưng "Thổ Nhĩ Kỳ" trong tiếng Việt bắt nguồn từ "土耳其", dịch danh Trung văn của quốc hiệu Thổ Nhĩ Kỳ.

Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ là một nước cộng hoà dân chủ, theo hiến pháp phi tôn giáo. Hệ thống chính trị của họ đã được thành lập từ năm 1923. Thổ Nhĩ Kỳ là thành viên của Liên Hiệp Quốc, NATO, OSCE, OECD, OIC, Cộng đồng Châu Âu và đang đàm phán đề gia nhập Liên minh châu Âu. Vì có vị trí chiến lược ở giữa Châu ÂuChâu Á và giữa ba biển, Thổ Nhĩ Kỳ từng là ngã tư đường giữa các trung tâm kinh tế, và là nơi phát sinh cũng như nơi xảy ra các trận chiến giữa các nền văn minh lớn.

Lịch sử[sửa]

Vì có vị trí chiến lược ở điểm giao cắt giữa châu Á và châu Âu, Anatolia từng là cái nôi của nhiều nền văn minh từ thời tiền sử, những khu định cư thời đồ đá mới như Çatalhöyük (Pottery Neolithic), Çayönü (Pre-Pottery Neolithic A cho tới Pottery Neolithic), Nevali Cori (Pre-Pottery Neolithic B), Hacilar (Pottery Neolithic), Göbekli Tepe (Pre-Pottery Neolithic A) và Mersin. Việc định cư ở Troia đã bắt đầu từ thời đồ đá mới và kéo dài tới Thời đồ sắt. Trong những bản ghi chép lịch sử, người Anatolia đã sử dụng các ngôn ngữ Ấn-Âu, Semitic và Kartvelian cũng như nhiều loại ngôn ngữ nhánh chưa được xác định chính xác khác. Trên thực tế, vì sự lâu đời của các ngôn ngữ Hittite và Luwian trong hệ Ấn-Âu, một số học giả đã cho rằng Anatolia có thể là một trung tâm, từ đó các ngôn ngữ Ấn-Âu phát triển rộng ra xung quanh. Các tác giả khác lại cho rằng người Etruscan ở Ý cổ có nguồn gốc từ Anatolia. Và những dân tộc đã định cư hay đã chinh phục Anatolia gồm người Phrygia, người Hittite, người Lydia, người Lycia, người Mushki, người Kurds, người Cimmeria, người Armenia, người Ba Tư, người Tabal, người Hy Lạp. Người Turk đã chinh phục Anatolia ở thời nhà Seljuk trong Trận Manzikert và sự trỗi dậy của Đế chế Đại Seljuk trong thế kỷ 11 chấm dứt cùng với sự lớn mạnh của Đế chế Ottoman. Trong suốt 2 thế kỷ 16 và thế kỷ 17, ở đỉnh cao quyền lực của mình, Đế chế Ottoman chiếm cả Anatolia, Bắc Phi, Trung Đông, đông nam và Đông Âu cùng Caucasus.

Tuy nhiên, từ thế kỷ XIII tới thế kỷ XX, Thổ Nhĩ Kỳ đã liên tiếp gây chiến tranh với Áo, Montenegro, Hy Lạp, Armenia, Gruzia, Pháp, Bulgaria, Serbia, Anh & đặc biệt là Nga. Các cuộc Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ đã gây thiệt hại nặng cho Thổ Nhĩ Kỳ, thậm chí họ đã nhiều lần bị Nga đè bẹp. Ngoài ra, họ còn gây ra các cuộc chiến khác trong lịch sử như Chiến tranh Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ, Chiến tranh Thổ Nhĩ Kỳ-Armenia, Chiến tranh Anh-Thổ Nhĩ Kỳ, v.v...

Sau nhiều năm suy tàn, Đế chế Ottoman tham gia Thế chiến thứ nhất với tư cách đồng minh của Đức năm 1914, hoàn toàn bị đánh bại và bị chiếm đóng. Các cường quốc phương Tây tìm cách chia nhỏ đế chế này thông qua Hiệp ước về Cách đối xử (xem Sự trỗi dậy của Chủ nghĩa quốc gia thời Đế chế Ottoman). Với sự hỗ trợ của Đồng Minh, Hy Lạp chiếm İzmir theo quy định trong Hiệp ước.

Ngày 19 tháng 5 năm 1919 sự kiện này đã thúc đẩy sự hình thành một phong trào quốc gia dưới sự lãnh đạo của Mustafa Kemal Pasha, một chỉ huy quân sự, người đã trở nên nổi tiếng từ Chiến dịch Gallipoli. Kemal Pasha tìm cách huỷ bỏ các điều khoản trong hiệp ước do sultan Mehmed VI đã ký tại Istanbul, hành động này đã huy động được mọi thành phần hưởng ứng trong xã hội Thổ Nhĩ Kỳ tham gia vào cái sẽ trở thành Chiến tranh giành độc lập Thổ Nhĩ Kỳ (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Kurtuluş Savaşı).


Mustafa Kemal Atatürk - Người sáng lập và là Tổng thống đầu tiên của Cộng hoà Thổ Nhĩ KỳTới ngày 18 tháng 12 năm 1922 quân đội chiếm đóng phải rút lui và đất nước được giải phóng. Ngày 1 tháng 11 năm 1922 Đại Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ chính thức bãi bỏ chức danh sultan Ottoman, và cũng chấm dứt luôn 631 năm cầm quyền của nhà Ottoman. Năm 1923 Hiệp ước Lausanne công nhận chủ quyền của nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ mới, Kemal được Quốc Hội trao tên tôn kính Atatürk (nghĩa "Cha của người Thổ") và sẽ trở thành Tổng thống đầu tiên của nước Cộng hoà. Atatürk tiến hành nhiều cuộc cải cách sâu rộng với mục tiêu hiện đại hoá đất nước và loại bỏ những tàn tích cũ từ quá khứ Ottoman.

Thổ Nhĩ Kỳ tham gia Thế chiến thứ hai cùng với Đồng Minh ở giai đoạn cuối của cuộc chiến và trở thành một thành viên Liên Hiệp Quốc. Những khó khăn mà Hy Lạp phải đối đầu trong việc dẹp yên một cuộc nổi dậy cộng sản và yêu cầu của Liên bang Xô viết về việc thành lập các căn cứ quân sự ở Eo biển Thổ Nhĩ Kỳ khiến Hoa Kỳ phải tuyên bố Học thuyết Truman năm 1947. Học thuyết này đề ra các mục tiêu của Mỹ nhằm đảm bảo an ninh cho Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp và tiếp sau đó là viện trợ kinh tế cũng như quân sự ở mức độ lớn của Hoa Kỳ cho hai nước.

Sau khi tham gia với các lực lượng Liên Hiệp Quốc tại cuộc xung đột Triều Tiên, năm Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập Tổ chức hiệp ước bắc Đại Tây Dương (NATO). Thổ Nhĩ Kỳ can thiệp và tấn công quân sự vào Síp tháng 7 năm 1974 để trả đũa một cuộc đảo chính do EOKA-B của Hy Lạp tiến hành. Nền độc lập trên thực tế của Bắc Síp không được bất kỳ một nước nào chính thức công nhận trừ chính Thổ Nhĩ Kỳ.

Giai đoạn thập niên 1970 và 1980 được đánh dấu bởi sự bất ổn và thay đổi chính trị nhanh chóng, nhưng cũng có những giai đoạn phát triển kinh tế. Một loạt những cú sốc kinh tế dẫn tới một cuộc tuyển cử mới năm 2002, khiến Đảng Công lý và Phát triển bảo thủ do cựu thị trưởng Istanbul, Recep Tayyip Erdoğan lãnh đạo lên nắm quyền lực. Tháng 10 năm 2005, Liên minh châu Âu bắt đầu các cuộc đàm phán về việc gia nhập với Ankara và vì thế Thổ Nhĩ Kỳ hiện là một ứng cử viên gia nhập Liên minh châu Âu.

Địa lý[sửa]

Lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ trải dài từ 36° tới 42° Bắc và từ 26° tới 45° Đông ở vùng Âu Á. Nước này gần có hình chữ nhật và rộng 1.660 kilômét (1.031 dặm). Diện tích Thổ Nhĩ Kỳ không tính các hồ là 814.578 kilômét vuôngs (314.510 dặm vuông), trong đó 790.200 kilômét vuông (305.098 sq dặm) ở bán đảo Anatolia (cũng được gọi là Tiểu Á) ở Châu Á, và 3% hay 24.378 kilômét vuông (9.412 sq dặm) nằm ở Châu Âu. Nhiều nhà địa lý coi Thổ Nhĩ Kỳ theo chính trị là thuộc Châu Âu, dù đúng ra đó là một nước liên lục địa giữa Châu Á và Châu Âu. Biên giới trên bộ của Thổ Nhĩ Kỳ tổng cộng 2.573 kilômét (1.599 dặm), và đường bờ biển (gồm cả các đảo) tổng cộng 8.333 kilômét (5.178 dặm).

Nói chung Thổ Nhĩ Kỳ được chia thành bảy vùng: Marmara, Êgê, Địa Trung Hải, Trung Anatolia, Đông Anatolia, Đông nam Anatolia và vùng Biển Đen. Vùng đất không bằng phẳng phía bắc Anatolia chạy dọc theo Biển Đen thành một dải dài và hẹp. Vùng này chiếm khoảng 1/6 tổng diện tích đất liền Thổ Nhĩ Kỳ. Theo xu hướng chung, vùng cao nguyên bên trong Anatolia dần có nhiều đồi núi hơn khi đi về hướng đông.

Thổ Nhĩ Kỳ tạo thành một cây cầu giữa Châu Âu và Châu Á, với đường phân chia hai châu lục chạy từ Biển Đen (Karadeniz) từ hướng bắc xuống dọc theo eo biển Bosporus (Istanbul Boğazı) qua eo Biển Marmara (Marmara Denizi) và Dardanelles (Çanakkale Boğazı) tới Biển Êgê (Ege Denizi) và Biển Địa Trung Hải (Akdeniz) về hướng nam. Bán đảo Anatolia hay Anatolia (Anadolu) gồm một cao nguyên có độ cao lớn với những đồng bằng hẹp ven biển, nằm giữa Köroğlu và dãy núi Đông Biển Đen ở hướng bắc và Dãy Taurus (Toros Dağları) ở phía nam. Phía đông có nhiều núi non hơn, là nơi khởi nguồn của nhiều con sông như Euphrates (Fırat), Tigris (Dicle) và Araks (Aras), cũng như Hồ Van (Van Gölü) và Núi Ararat (Ağrı Dağı), điểm cao nhất Thổ Nhĩ Kỳ cao 5.137 mét (16.853 ft).

Thổ Nhĩ Kỳ cũng là nơi phải chịu nhiều trận động đất mạnh. Bospho và Dardanelles đứng trên đường nứt gãy chạy xuyên Thổ Nhĩ Kỳ, dẫn tới việc thành tạo Biển Đen. Có một đường động đất chạy ngang phía bắc đất nước từ phía tây sang phía đông. Trong thế kỷ trước, đã có nhiều trận động đất xảy ra dọc đường đứt gãy này, tầm cỡ và vị trí của những trận động đất có thể được quan sát tại hình ảnh về Các đường nứt gãy và Động đất. Hình ảnh này cũng gồm một bản đồ tỷ lệ nhỏ thể hiện các đường nứt gãy khác ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Khí hậu Thổ Nhĩ Kỳ là khí hậu ôn hoà Địa Trung Hải, với mùa hè nóng và khô, mùa đông lạnh ẩm và dịu, dù các điều kiện thời tiết có thể khắc nghiệt hơn ở những vùng khô cằn bên trong.

Vùng[sửa]

Turkey regions map.png
Thổ Nhĩ Kỳ Aegea
Di tích Hy Lạp và La Mã giữa xanh biển một bên và rừng ô liu một bên
Thổ Nhĩ Kỳ Biển Đen
Các núi có nhiều rừng phù hợp cho các môn thể thao ngoài trời như trekking và thả bè
Trung bộ Anatolia
Thảo nguyên trung tâm nghèo cây cố với thủ đô, các phế tích Hê-tít và di tích Phrygia và Cappadocia như mặt trăng
Đông Anatolia
Phía đông núi non và cao với mùa đông khắc nghiệt
Vùng Marmara
Khu vực đô thị hóa cao nhất với các công trình Byzantine và Ottoman ở một trong các thành phố lớn nhất đất nước
Thổ Nhĩ Kỳ Địa Trung Hải
Các núi phủ rừng thông tăng dần ngay từ bờ biển trong tinh thể
Đông Nam Anatolia
Phần cực Trung Đông bán sa mạc của quốc hia

Thành phố[sửa]

  • Istanbul - Một thành phố có bề dày lịch sử lâu đời, từng là thủ đô của nhiều triều đại và là thành phố nằm trên 2 châu lục châu Áchâu Âu.
  • Ankara - thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ
  • Antalya — thành phố tăng trưởng nhanh nhất, trung tâm một loạt các khu resort
  • Bodrum — thành phố ven biển ở Nam Aegea là một thành phố đông đúc trong mùa cao điểm du lịch khi nó phục vụ như một sân chơi cho du khách quốc tế và du khách Thổ Nhĩ Kỳ, có một tòa thành, di tích La Mã, các câu lạc bộ thời thượng và một số làng xung quanh bán đảo đều có một nhân vật khác nhau từ sang trọng đến mộc mạc
  • Edirne — thủ đô thứ hai của Đế chế Ottoman
  • Izmir — thành phố lớn thứ 3 Thổ Nhĩ Kỳ
  • Konya — một thành phố khá lớn khu trung tâm của trật tự thần bí Sufi, nơi có ngôi mộ của Rumi, và với một số kiến trúc Seljuq thanh lịch, tất cả được bao quanh bởi những thảo nguyên rộng lớn
  • Trabzon — Tu viện Sumela tuyệt vời nằm ngay bên ngoài thành phố và nó là một cửa ngõ tuyệt vời để khám phá vùng Đông Bắc Thổ Nhĩ Kỳ*
  • Urfa — thành phố huyền diệu với kiến trúc đẹp và người dân địa phương rất thân thiện tại cửa Đông Thế giới, nơi người Kurd, Ả Rập, Ba Tư và các nền văn hóa hòa trộn nhau.

Các điểm đến khác[sửa]

Đến[sửa]

  • Việt Nam: người mang hộ chiếu phổ thông cần có visa để vào Thổ Nhĩ Kỳ. Người mang hộ chiếu Công vụ được miễn visa lên đến 90 ngày. Các quốc gia khác, xem [1].

Công dân của các nước sau đây có thể được cấp visa nhập cảnh nhiều lần, loại visa được dán vào hộ chiếu tại bất kỳ điểm nào có hiệu Thổ Nhĩ Kỳ với phí visa [2]:

Thời hạn visa trong ba tháng:

Thời hạn trong 2 tháng:

  • Belarus (US$20 / €15)
  • Nga (Không cần visa theo thỏa thuận song phương giữa hai nước)

Thời hạn một tháng:

(NOTE: Payments in Pounds Sterling must be in Bank of England £10 notes ONLY. No Scottish or Northern Irish notes and no khác values of notes, i.e. £5 or £20)

Các công dân của các quốc gia / vùng lãnh thổ được liệt kê dưới đây có thể nhập Thổ Nhĩ Kỳ miễn thị thực cho 90 ngày trừ khi có quy định khác [3]:

Albania, Andorra, Argentina, Azerbaijan (30 days), Bolivia, Bosnia and Herzegovina (60 days), Brazil, Brunei, Bulgaria, Chile, Costa Rica (30 days), Croatia, Czech Republic, Băc Cyprus (Turkish republic of), Denmark, Ecuador, El Salvador, Estonia, Finland, Pháp, Georgia, Germany, Greece, Guatemala, Honduras, Iceland, Hong Kong (SAR Passport), Iran, Israel, Italy, Japan, Kazakhstan (30 ngày), Kosovo, Kyrgyzstan (30 days), Latvia (30 ngày), Lebanon, Liechtenstein, Lithuania, Luxembourg, Macau (30 ngày), Macedonia (60 ngày), Malaysia, Moldova (30 ngày), Monaco, Mongolia (30 days), Montenegro, Morocco, New Zealand, Nicaragua, Paraguay, Romania, San Marino, Serbia, Singapore, Slovenia, Hàn Quốc, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Syria, Tajikistan (30 days), Trinidad and Tobago, Tunisia, Turkmenistan (30 days), Uruguay, Uzbekistan (30 days), Thành VaticanVenezuela.

Công dân Đức không cần phải có thị thực cư trú trong vòng 90 ngày và thậm chí có thể nhập với thẻ căn cước quốc gia (Personalausweis) hay hộ chiếu/căn cước đã hết hạn trừ phi đến tại các điểm non-Council of Europe land border crossings (i.e. from Iran, Iraq and Syria). [4]


Bằng đường hàng không[sửa]

  • Sân bay quốc tế Atatürk Istanbul - là sân bay bận rộn nhất Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul.
  • Sân bay quốc tế Sabiha Gökçen - là sân bay quốc tế thứ 2 ở Istanbul, nằm ở phía đông bắc của thành phố này.
  • Sân bay quốc tế Esenboğa - sân bay nằm ở Ankara.

Bằng tàu hỏa[sửa]

Bạn vẫn có thể đitừ châu Âu đến Thổ Nhĩ Kỳ bằng tàu hỏa, ngày nay đi bằng phương tiện này vì lý do quan tâm đến lịch sử hay lãng mạn chứ không phải phương tiện này nhanh hay thực dụng. Orient Express nổi tiếng từ London nay không đi xa hơn Viên, nhưng bạn có thể đi tàu hàng ngày TransBalkan từ Budapest (Hungary) thông qua Bucharest (Romania), một cuộc hành trình hai đêm với một chặng dừng 3 giờ theo lịch trình tại Bucharest. Toa giường nằm hạng 1, 2 và ghế nằm có sẵn, nhưng tàu không có toa ăn do đó bạn nên mang theo nhiều đồ ăn. Từ / đến ga Hy Lạp có hai tuyến tàu hàng ngày, từ Istanbul đến ga biên giới của Pythion mỗi buổi sáng và từ Istanbul đến Thessaloniki mỗi đêm. (Do cắt giảm ngân sách của chính phủ Hy Lạp, các tuyến tàu đến/từ Hy Lạp đã bị đình chỉ vô thời hạn kể từ 13 Tháng Hai năm 2011.) Ngoài ra còn có tàu hàng ngày đến Istanbul từ Sofia (Bulgaria) .

Từ Trung Đông, cũng có tuyến tàu mỗi tuần từ TabrizIran trong Iran để VănIstanbul, thông qua Ankara. (Do đổi mới đường ray, ít nhất là hai năm, kể từ tháng 2 năm 2012 trên, đài Châu Á của Istanbul sẽ không nhận được dịch vụ. Như vậy, ga cuối phía tây của Xuyên Á Express, cung cấp dịch vụ giữa Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, đã được chuyển đến Ankara.) Trong khi trực tiếp Istanbul-Damascus dịch vụ đã bị ngưng một thời gian bây giờ, vẫn còn một hoặc hai lần tàu hàng tuần giữa các thành phố phía nam của Mersin, AdanaGaziantepSyria n thành phố Aleppo. Có cũng đã được một tàu kết nối Gaziantep với Mosul trong Iraq, nhưng nó đã bị đình chỉ ngay sau khi nó được khánh thành và dường như không trở lại vào dịch vụ, ít nhất là trong tương lai gần.

Một cách rẻ tiền của du lịch hoặc từ Thổ Nhĩ Kỳ có thể là tàu Balkan Flexipass.

Bằng ô-tô[sửa]

Bằng buýt[sửa]

Bằng tàu thuyền[sửa]

Đi lại[sửa]

Ngôn ngữ[sửa]

Ngôn ngữ chính thức duy nhất của Thổ Nhĩ Kỳ là tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ là một ngôn ngữ Altaic và ngôn ngữ bà con gần gũi nhất của nó là các ngôn ngữ gốc Thổ Nhĩ Kỳ khác, được sử dụng ở phía Tây Nam, Trung, Bắc Á, và đến một mức độ thấp hơn của cộng đồng đáng kể trong khu vực Balkan. Vì Thổ Nhĩ Kỳ là một ngôn ngữ có sức dính, người bản ngữ của các ngôn ngữ Ấn-Âu nói chung cảm thấy khó khăn để học. Từ năm 1928, Thổ Nhĩ Kỳ được viết bằng một biến thể của bảng chữ cái Latin (sau nhiều thế kỷ của việc sử dụng một tiếng Ả Rập, rõ ràng trong nhiều văn bản lịch sử và văn bản) với sự bổ sung của ç/Ç, ğ/Ğ, ı, İ, ö/Ö, ş/Ş và ü/Ü, và với các loại trừ của Q, W và X.

Tiếng Kurd cũng được sử dụng bởi một ước tính 7-10% dân số. Một số ngôn ngữ khác tồn tại, như Laz ở Đông Bắc (cũng được sử dụng trong gần Gruzia), và trong những người chung sống gần biên giới cũng thường xuyên được nói ngôn ngữ ở phía bên kia, giống như tiếng Ả Rập trong khu vực Đông Nam.

Nhờ di cư, thậm chí trong các vùng nông thôn hầu hết các làng sẽ có ít nhất một người đã làm việc tại Đức và do đó có thể nói tiếng Đức. Cũng vậy với ngôn ngữ Tây Âu khác như Hà Lan (thường gọi nhầm là "Flemish" ở đó) hoặc tiếng Pháp. Việc nhập cư gần đây từ vùng Balkan có nghĩa là đó cũng là một khả năng gặp người nói tiếng Serbi-Croatia, Bulgaria, Albania và người nói các tiếng này chủ yếu ở các thành phố lớn của miền tây Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng không được tính vào đây. Tiếng Anh cũng đang ngày càng phổ biến trong thế hệ trẻ.

Mua sắm[sửa]

Chi phí[sửa]

Thức ăn[sửa]

Ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ kết hợp các ảnh hưởng của Địa Trung Hải, Trung Á, Kavkazg, và của Ả Rập, và là vô cùng phong phú. Thịt bò là loại thịt quan trọng nhất (thịt cừu cũng là phổ biến nhưng thịt lợn là rất khó để tìm thấy mặc dù không bất hợp pháp), và cà tím (cà tím), hành tây, đậu lăng, đậu, cà chua, tỏi, và dưa chuột là loại rau chính. Một sự phong phú của các loại gia vị cũng được sử dụng. Các loại cây lương thực chính là lúa (pilav), bulgur lúa mì và bánh mì, và các món ăn thường được nấu chín trong dầu thực vật hoặc đôi khi bơ.

Có rất nhiều loại nhà hàng chuyên món để lựa chọn thức ăn. Nhà hàng truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ phục vụ bữa ăn hàng ngày được chuẩn bị và được lưu trữ trong một bain-marie. Các bữa ăn tại với menu đặt ở lối vào để bạn có thể dễ dàng nhìn thấy và lựa chọn. Kebapçis là nhà hàng chuyên về các loại thịt nướng. Một số nhà hàng kebab phục vụ rượu trong khi những nhà hàng khác thì không. Có phân nhóm như ciğerci, Adana kebapçısı hoặc Iskender kebapçısı. Nhà hàng cá thường phục vụ Mèze (món ăn dầu ô liu lạnh) và Raki hoặc rượu vang. Dönerci của được phổ biến khắp đất nước và phục vụ Doner Kebap như một thức ăn nhanh. Köfeci của các nhà hàng với thịt viên (Köfte) phục vụ như là món ăn chính. Kokoreçci, midyeci, tantunici, mantıcı, gözlemeci, lahmacuncu, pideci, CIG köfteci, etsiz CIG köfteci là các loại nhà hàng địa phương tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ có chuyên chế biến một loại thức ăn.

Một bữa ăn đầy đủ Thổ Nhĩ Kỳ tại nhà hàng kebab bắt đầu với một món canh, súp đậu lăng thường (mercimek çorbasi), và một tập hợp các món khai vị Mèze gồm ô liu, phô mai, dưa chua và một loạt các món ăn nhỏ. Mèze có thể dễ dàng được làm thành một bữa ăn đầy đủ, đặc biệt là nếu món này được ăn cùng với Raki. Món chính thường là thịt: một loại món ăn phổ biến và tốt nhất của Thổ Nhĩ Kỳ xuất khẩu nhiều nhất ra các quốc gia khác kebab (Kebap), thịt nướng trong các hình thức khác nhau bao gồm các Doner Kebap nổi tiếng (lát mỏng thịt cạo từ một mũi quay khổng lồ) và şişkebab (thịt xiên que), và rất nhiều món khác. Köfte (thịt viên) là một biến thể của thịt nướng. Có hàng trăm loại köfte suốt Anatolia, nhưng chỉ có khoảng 10 đến 12 người trong số họ được biết là các cư dân của các thành phố lớn, kike İnegöl köfte, Dalyan köfte, Sulu köfte vv

Ăn với giá rẻ là chủ yếu quầy kebab, mà có thể được tìm thấy ở khắp mọi nơi tại Istanbul, thành phố lớn khác. Với giá tương đương với một vài đô la, bạn sẽ có được một ổ đầy đủ của bánh mì cắt lát trung lộ với thịt nướng, rau diếp, hành tây và cà chua.

Đồ uống[sửa]

Chỗ nghỉ[sửa]

Học[sửa]

Làm[sửa]

An toàn[sửa]

Y tế[sửa]

Tôn trọng[sửa]

Liên hệ[sửa]


Bài hướng dẫn này chỉ mới ở dạng dàn bài nên nó cần bổ sung nhiều thông tin hơn. Hãy mạnh dạn sửa đổiphát triển nó!